Nội dung văn bản cung cấp không trực tiếp nêu tên luận án. Tuy nhiên, từ các mục tiêu và đóng góp mới, luận án tập trung vào nghiên cứu đặc điểm giải phẫu vùng phân bố điểm vận động của cơ vòng mắt và cơ duỗi các ngón tay trên xác người Việt, sau đó ứng dụng các kết quả này vào kỹ thuật ghi điện cơ sợi đơn (SFEMG) để chẩn đoán bệnh nhược cơ.
Nội dung văn bản cung cấp không trực tiếp nêu ngành của luận án. Dựa trên chủ đề và phương pháp nghiên cứu, luận án thuộc lĩnh vực Y học, chuyên sâu về Thần kinh học, Giải phẫu học và Điện sinh lý học thần kinh cơ.
Luận án tập trung giải quyết vấn đề chẩn đoán bệnh nhược cơ (Myasthenia Gravis - MG), một bệnh tự miễn rối loạn dẫn truyền thần kinh-cơ, đặc biệt là thể mắt thường khó phát hiện và dễ bị bỏ sót tại Việt Nam. Kỹ thuật ghi điện cơ sợi đơn (SFEMG) được đánh giá là phương pháp nhạy nhất, nhất là với các trường hợp bệnh nhẹ. Tuy nhiên, việc sử dụng kim đồng trục thường quy trong SFEMG hiện nay gặp phải khó khăn và nhiễu do diện tích thu nhận tín hiệu lớn, đặc biệt khi kích thích điện. Để khắc phục, luận án đề xuất nghiên cứu chi tiết đặc điểm giải phẫu (GP) cơ vòng mắt (VM) và cơ duỗi các ngón tay (DCN) trên xác người Việt, tập trung vào vùng phân bố các điểm vận động, nhằm mục đích ứng dụng vào kỹ thuật SFEMG để đánh giá sự biến động dẫn truyền ở xi náp thần kinh cơ.
Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: 1) Mô tả đặc điểm GP các nhánh thần kinh mặt chi phối cơ VM và nhánh thần kinh quay chi phối cơ DCN trên xác người Việt trưởng thành. 2) Ứng dụng kết quả nghiên cứu GP này vào kỹ thuật SFEMG cơ VM và DCN ở bệnh nhân nhược cơ. Luận án đã đóng góp mới bằng cách là công trình đầu tiên trên thế giới và trong nước phân tích chi tiết GP, xác định các vùng phân bố điểm vận động (bao gồm vùng 1cm² tập trung cao nhất và các vùng chứa 50%, 75%, 95% điểm vận động) của hai cơ VM và DCN trên xác người Việt. Đồng thời, luận án ứng dụng kết quả này vào kỹ thuật SFEMG trong chẩn đoán nhược cơ theo một phương pháp mới (có xác định vùng vận động trước) và so sánh với phương pháp kinh điển.
Về phương pháp, nghiên cứu được thực hiện trên 60 mẫu phẫu tích xác người Việt và 60 bệnh nhân nhược cơ tại TP. Hồ Chí Minh theo thiết kế mô tả cắt ngang. Kết quả phẫu tích nhóm 1 đã mô tả kích thước cơ VM, số lượng các phân nhánh thần kinh chi phối, và thiết lập được các vùng phân bố điểm vận động tập trung cao nhất cho cả hai cơ. Kết quả trên nhóm lâm sàng (60 bệnh nhân, tuổi trung bình 41, đa số nữ, chủ yếu phân độ Osserman Độ I) đã tiến hành 104 lượt đo SFEMG kiểu kích thích. Đối với bệnh nhân nhược cơ độ I chưa điều trị hoặc tái phát, SFEMG dương tính 96,2% ở cơ VM và 53,3% ở cơ DCN, trong khi RNS chỉ dương tính 15,3%. Điều này khẳng định giá trị chẩn đoán của SFEMG, đặc biệt khi áp dụng phương pháp mới dựa trên dữ liệu giải phẫu học.