NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH CẤP MÁU CHO NGÓN CHÂN I, II BẰNG CHỤP MẠCH CẮT LỚP VI TÍNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CHUYỂN NGÓN CHÂN PHỤC HỒI NGÓN TAY CÁI
Ngoại khoa / Chấn thương chỉnh hình và tạo hình
Trong lĩnh vực y học, ngón tay cái đóng vai trò then chốt, chiếm tới 50% chức năng bàn tay, do đó việc phục hồi khi bị cụt là vô cùng cần thiết. Trong các phương pháp tái tạo, phẫu thuật chuyển ngón chân dạng tự do mang lại kết quả ưu việt. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam còn hạn chế về giải phẫu động mạch cấp máu cho ngón chân I, II và đánh giá toàn diện kết quả phẫu thuật cũng như di chứng tại vị trí cho ngón. Luận án này được thực hiện nhằm hai mục tiêu chính: mô tả đặc điểm giải phẫu động mạch cấp máu cho vạt ngón chân cái và ngón chân thứ II ở người Việt trưởng thành bằng chụp mạch cắt lớp vi tính 320 lát cắt (CTA); và đánh giá kết quả phẫu thuật chuyển ngón chân phục hồi ngón tay cái cùng ảnh hưởng tại bàn chân cho ngón.
Nghiên cứu được thiết kế tiến cứu, mô tả cắt ngang. Phần giải phẫu động mạch được thực hiện trên 72 cổ - bàn chân lành lặn của 36 người trưởng thành bằng CTA-320. Phần lâm sàng bao gồm 55 bệnh nhân được phẫu thuật chuyển ngón chân phục hồi ngón tay cái (28 hồi cứu, 27 tiến cứu), với thời gian theo dõi trung bình trên 12 tháng.
Kết quả giải phẫu từ CTA-320 cho thấy những biến đổi quan trọng của hệ động mạch. Động mạch mu chân (ĐMMC) có mặt ở 93,1% trường hợp, với đường kính trung bình tại nguyên ủy là 3,22 ± 0,59mm. Động mạch mu đốt bàn I (ĐMMĐB I) vắng mặt hoặc có kích thước nhỏ ở 29,2% trường hợp, chủ yếu có nguyên ủy từ ĐMMC (66,7%). Sự bất đối xứng giải phẫu ĐMMĐB I giữa hai chân được ghi nhận ở 44,4% bệnh nhân. Động mạch gan đốt bàn I (ĐMGĐB I) có mặt ở 45,8% trường hợp, thường có nguyên ủy từ ĐMMC (40,3%) hoặc ĐM gan chân trong (5,6%), và vắng mặt hoặc nhỏ ở 54,2%. Tại kẽ ngón chân thứ nhất, ĐMMĐB I ưu thế cấp máu ở 54,2% trường hợp. Kết quả CTA trùng khớp 100% với phẫu thuật, khẳng định giá trị của nó trong lập kế hoạch trước mổ.
Về kết quả lâm sàng, tỷ lệ ngón sống hoàn toàn đạt 98,2% ở giai đoạn sớm. Kết quả xa (trung bình 32,5 tháng) cho thấy phục hồi chức năng vận động khả quan: ở nhóm còn ô mô cái, điểm đối chiếu trung bình là 8,3/10, lực nắm 83,8% và lực nhón 59,4% so với bên lành. Phục hồi cảm giác đạt mức S3+ ở 77,8% và S3 ở 22,2%. Điểm thẩm mỹ trung bình là 81,9/100. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả phục hồi giữa vạt ngón chân cái thu nhỏ và ngón chân thứ II. Ảnh hưởng tại bàn chân cho ngón là không đáng kể, với điểm chức năng cổ bàn chân trung bình là 96,5/100, dù mức độ ảnh hưởng của chuyển ngón chân cái lớn hơn ngón chân thứ II.
Luận án cung cấp thông tin chi tiết về giải phẫu vi mạch bàn chân và hiệu quả của phẫu thuật chuyển ngón chân phục hồi ngón tay cái, nhấn mạnh vai trò của CTA trong đánh giá tiền phẫu và khẳng định các kết quả chức năng, thẩm mỹ tốt với di chứng tại vị trí cho ngón chấp nhận được.