NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CẮT LỚP VI TÍNH NGỰC LIỀU THẤP TRONG CHẨN ĐOÁN CÁC NỐT MỜ PHỔI
ĐIỆN QUANG VÀ Y HỌC HẠT NHÂN
Luận án "Nghiên cứu giá trị cắt lớp vi tính ngực liều thấp trong chẩn đoán các nốt mờ phổi" được thực hiện nhằm đánh giá vai trò của kỹ thuật cắt lớp vi tính (CLVT) ngực liều thấp và hệ thống phân loại Lung-RADS 2019 trong việc chẩn đoán sớm các nốt phổi có nguy cơ ác tính cao. Nghiên cứu được tiến hành trên 83 bệnh nhân trên 18 tuổi, có nốt phổi kích thước ≤ 30mm, đã chụp CLVT ngực liều thấp và có kết quả mô bệnh học, tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế và Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng từ tháng 1/2015 đến tháng 3/2021.
Các mục tiêu chính bao gồm phân loại nốt phổi theo Lung-RADS 2019 và mô tả đặc điểm hình ảnh CLVT liều thấp của các nốt phổi nguy cơ ác tính cao, đồng thời khảo sát giá trị của phương pháp này trong chẩn đoán. Luận án đã đóng góp vào việc ứng dụng CLVT ngực liều thấp và bảng phân loại cập nhật của Hiệp hội Điện quang Hoa Kỳ (Lung-RADS 2019) trong thực hành chẩn đoán sớm các nốt phổi ác tính, cung cấp bằng chứng thực tiễn về giá trị của chúng trong sàng lọc và chẩn đoán, đồng thời khẳng định ý nghĩa khoa học của việc cá nhân hóa các khuyến cáo.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất (60,2%), với tỷ lệ nam/nữ là 1,68/1. Về phân loại nốt phổi, 90,4% thuộc nhóm Lung-RADS 4B,4X với nguy cơ ung thư phổi cao (>15%) chiếm 86,7%. Các đặc điểm hình ảnh của nốt phổi nguy cơ ác tính cao trên CLVT liều thấp bao gồm: nốt đơn độc (67,5%), chủ yếu ở phổi phải (68,7%) và thùy trên (57,8%), đa số là nốt đặc (96,4%) với kích thước ≥ 15mm (95,2%), không vôi hóa (80,7%) hoặc có kiểu vôi hóa ác tính (15,7%). Các đặc điểm hình thái khác như dạng đa giác, tròn/oval, bờ không đều kiểu tua gai (68,7%), có cây phế quản hình thái ác tính (47%) và ngấm thuốc (69,9%) cũng được ghi nhận.
Giá trị chẩn đoán của CLVT ngực liều thấp được khẳng định qua 5 đặc điểm hình ảnh độc lập có ý nghĩa trong chẩn đoán nốt phổi ác tính cao: kích thước > 22mm, bờ không đều dạng tua gai và đa cung, nốt vôi hóa, phì đại hạch vùng và hạch nghi ngờ (với p 22mm, và nốt Lung-RADS 4B có tua gai và ngấm thuốc cũng cho thấy nguy cơ ác tính cao hơn đáng kể. Lung-RADS 2019 cho độ nhạy 98%, độ đặc hiệu 21,2% trong phân nhóm và độ nhạy 96%, độ đặc hiệu 27,3% trong dự báo nguy cơ ung thư phổi. Ngưỡng dự báo nguy cơ ác tính > 29,39% có độ nhạy 80% và độ đặc hiệu 54,6%.
Luận án kiến nghị triển khai tầm soát nốt phổi nguy cơ cao bằng CLVT ngực liều thấp và áp dụng thống nhất bảng phân loại Lung-RADS 2019, đồng thời lưu ý các trường hợp có yếu tố nguy cơ cao theo David Ost, nốt đặc > 22mm hoặc nốt có dự báo nguy cơ ác tính ≥ 30% khi chỉ định sinh thiết.