Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
Đang tải tài liệu...
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN, VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NHỒI MÁU RUỘT DO TẮC MẠCH MẠC TREO
NGOẠI – TIÊU HÓA (Mã số: 62.72.07.01)
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp điện toán, và kết quả điều trị phẫu thuật nhồi máu ruột do tắc mạch mạc treo" do Nguyễn Tuấn thực hiện tại Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh năm 2014, nhằm giải quyết sự thiếu hụt nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị nhồi máu ruột do tắc mạch mạc treo (TMMT) tại Việt Nam. Nghiên cứu tập trung vào ba mục tiêu chính: xác định đặc điểm lâm sàng của nhồi máu ruột do TMMT; đánh giá giá trị của chụp cắt lớp điện toán (CCLĐT) trong chẩn đoán ở bệnh nhân nghi ngờ; và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật.
Nghiên cứu hồi cứu 48 bệnh nhân được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01 năm 2004 đến tháng 06 năm 2010 đã đưa ra nhiều kết luận quan trọng. Về đặc điểm lâm sàng, bệnh nhân tắc tĩnh mạch (TM) mạc treo có tuổi trung bình thấp hơn đáng kể (37 tuổi) so với tắc động mạch (ĐM) mạc treo (73 tuổi). Tất cả bệnh nhân đều có triệu chứng đau bụng, trong đó mức độ đau nhiều xảy ra ở tất cả bệnh nhân tắc ĐM mạc treo. Bệnh nhân tắc ĐM thường đi kèm các bệnh lý như rung nhĩ (55,9%), bệnh van tim (29,4%) và tăng huyết áp (64,7%). Thời gian trung bình từ khi khởi phát bệnh đến phẫu thuật ở nhóm tắc ĐM (2,3 ngày) ngắn hơn so với nhóm tắc TM (4,2 ngày). Nhóm tắc TM chỉ bị nhồi máu ở ruột non, trong khi trên một nửa số trường hợp tắc ĐM (58,8%) bị nhồi máu cả ruột non và đại tràng, với tỉ lệ đoạn ruột hoại tử trên 100 cm cao hơn hẳn ở nhóm tắc ĐM (73,5%).
Về giá trị của CCLĐT trong chẩn đoán nhồi máu ruột do TMMT, khi sử dụng một trong các dấu hiệu đặc hiệu như huyết khối ĐM/TM mạc treo tràng trên, hơi trong thành ruột, hơi trong tĩnh mạch cửa và nhồi máu tạng khác làm tiêu chuẩn chẩn đoán, CCLĐT hai thì đạt độ nhạy 85,4%, độ đặc hiệu 98%, độ chính xác 91,8% và giá trị tiên đoán dương 97,6%.
Kết quả điều trị phẫu thuật cho thấy tỉ lệ biến chứng sau mổ là 58,3%, trong đó suy hô hấp (20,8%), suy thận (18,8%) và TMCB ruột tiếp diễn (12,5%) là các biến chứng thường gặp. Tỉ lệ tử vong sau mổ chung là 43,8%, với tỉ lệ tử vong ở nhóm tắc ĐM (58,8%) cao hơn đáng kể so với nhóm tắc TM (7,1%). Tỉ lệ sống còn lâu dài của nhóm tắc TM cũng được ghi nhận cao hơn nhóm tắc ĐM.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên