NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA NHỒI MÁU NÃO Ở NGƯỜI CAO TUỔI CÓ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
THẦN KINH
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhồi máu não ở người cao tuổi có bệnh đái tháo đường" tập trung vào vấn đề đột quỵ não, đặc biệt là nhồi máu não (NMN), một bệnh lý gây tử vong và tàn tật phổ biến ở người cao tuổi. Tài liệu nhấn mạnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu, làm tăng nguy cơ đột quỵ não từ 2-3 lần và tỷ lệ NMN ở bệnh nhân ĐTĐ dao động từ 25-40%. Các yếu tố nguy cơ đồng diễn như vữa xơ động mạch, rối loạn chuyển hóa lipid máu, tăng huyết áp cũng góp phần làm NMN xảy ra sớm hơn, nặng nề hơn và hồi phục chậm hơn ở bệnh nhân ĐTĐ.
Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục tiêu xác định đặc điểm lâm sàng thần kinh, hội chứng chuyển hóa và hình ảnh cộng hưởng từ sọ não của NMN ở người cao tuổi có ĐTĐ, đồng thời nhận xét mối liên quan của ĐTĐ với NMN ở nhóm đối tượng này. Đây là một nghiên cứu tiến cứu, mô tả, có đối chứng, hệ thống hóa các đặc điểm trên và so sánh chi tiết với bệnh nhân NMN không ĐTĐ. Các thuật toán phân tích đơn biến và đa biến được sử dụng để đánh giá vai trò của ĐTĐ và các chỉ số liên quan như glucose máu, HbA1c, thời gian mắc bệnh, tuổi, điểm NIHSS đối với kết cục.
Kết quả nghiên cứu trên 215 bệnh nhân NMN cao tuổi (có và không ĐTĐ) cho thấy các triệu chứng lâm sàng thường gặp ở nhóm ĐTĐ là liệt nửa người (79,46%), rối loạn cảm giác nửa người (41,07%), rối loạn ngôn ngữ (40,18%). Tỷ lệ rối loạn nuốt (35,71%) và giảm thị lực (31,25%) ở nhóm NMN có ĐTĐ cao hơn đáng kể so với nhóm không ĐTĐ (p<0,05). NMN ổ khuyết gặp ở 62,5% bệnh nhân ĐTĐ, với hội chứng liệt vận động đơn thuần nửa người chiếm tỷ lệ cao nhất (41,42%). Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân NMN có ĐTĐ là 77,68%, cao hơn rõ rệt so với nhóm không ĐTĐ (p<0,001). Về hình ảnh cộng hưởng từ sọ não, nhồi máu não ở nhóm ĐTĐ thường gặp nhất ở khu vực dưới vỏ (64,28%), thân não (14,28%) và tổn thương phối hợp nhiều vị trí (13,43%), có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm không ĐTĐ (p<0,05). Nhồi máu não ổ khuyết ở nhóm ĐTĐ tập trung chủ yếu ở khu hạch nền và bao trong (30%), thân não, tiểu não (24,28%).
Phân tích mối liên quan cho thấy tiền sử ĐTĐ từ 5 năm trở lên có nguy cơ kết cục xấu khi ra viện cao gấp 3,96 lần so với tiền sử dưới 5 năm. Phân tích đa biến cũng khẳng định tiền sử ĐTĐ từ 5 năm trở lên, tuổi từ 75 trở lên và điểm NIHSS lúc nhập viện từ 5 điểm trở lên là các yếu tố liên quan đến kết cục xấu. Nghiên cứu kiến nghị tăng cường tuyên truyền về tác hại của ĐTĐ và các yếu tố nguy cơ đột quỵ não, cũng như thực hiện xét nghiệm glucose máu đói và HbA1c cho bệnh nhân NMN không có tiền sử ĐTĐ nhưng có glucose máu lúc nhập viện cao để chẩn đoán phân biệt.