Thông tin về tên luận án không được cung cấp trực tiếp trong tài liệu.
Thông tin về ngành không được cung cấp trực tiếp trong tài liệu. Tuy nhiên, dựa trên nội dung, lĩnh vực nghiên cứu thuộc chuyên ngành Tim mạch học và Phẫu thuật tim mạch.
Nghiên cứu này tập trung vào bệnh hẹp van động mạch chủ (HVCĐMC), một tình trạng bệnh lý tim mạch phổ biến thứ ba, đặc trưng bởi sự mở không hoàn toàn của van, gây tắc nghẽn đường tống máu thất trái. Bệnh thường diễn tiến âm thầm và có tiên lượng nặng khi xuất hiện triệu chứng, với tỷ lệ tử vong lên tới 50% trong hai năm. Mặc dù phẫu thuật thay van động mạch chủ đã có lịch sử hơn 50 năm và mang lại lợi ích rõ rệt trong cải thiện tỷ lệ sống còn, cấu trúc, chức năng thất trái và tình trạng lâm sàng, các nghiên cứu hiện có thường chỉ đánh giá kết quả ở các thời điểm xa sau mổ (3 tháng đến 1 năm), thiếu dữ liệu về giải phẫu bệnh hoặc theo dõi định kỳ, so sánh cặp tại các thời điểm khác nhau.
Nhằm đóng góp thêm bằng chứng khoa học, nghiên cứu này được thiết kế mô tả, cắt ngang, theo dõi dọc không đối chứng, với cỡ mẫu thuận tiện gồm 67 bệnh nhân được phẫu thuật thay van ĐMC tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 05/2010 đến 05/2020. Các đối tượng được chọn là bệnh nhân hẹp chủ đơn thuần, đồng ý phẫu thuật và loại trừ các trường hợp có can thiệp van khác hoặc hở van ĐMC phối hợp.
Nghiên cứu đã đánh giá các chỉ tiêu trước phẫu thuật bao gồm tuổi, giới, BMI, tiền sử thấp tim, mức độ suy tim theo NYHA, triệu chứng cơ năng/thực thể và ECG. Đặc biệt, nghiên cứu đi sâu vào mô bệnh học của van ĐMC, phân tích nguyên nhân (do thấp tim, thoái hóa), mức độ canxi hóa, thâm nhiễm tế bào viêm, đặc điểm mạch máu và mức độ dày lá van.
Kết quả cho thấy bệnh nhân thường đến viện ở giai đoạn muộn với các triệu chứng rõ rệt như khó thở và tiếng thổi tâm thu 3/6 vùng van động mạch chủ (100%), cùng với suy tim độ NYHA 2 và 3 (100%). Siêu âm tim ghi nhận tim trái giãn nhưng phân suất tống máu được bảo tồn (EF 60,9 ± 12,4%). Hẹp van nghiêm trọng với diện tích mở van 0,71 ± 0,1 cm² và chênh áp trung bình 57,5 ± 12 mmHg, kèm theo tăng khối cơ thất trái. Giải phẫu bệnh lý cho thấy sự phá hủy cấu trúc van, thâm nhiễm canxi và tân mạch nổi bật ở nhóm do thấp tim. Về phẫu thuật, thời gian chạy máy trung bình là 112 ± 96 phút, và van cơ học (VCH) được sử dụng chủ yếu (76,1%), với cỡ van 21 chiếm 59,7%. Tỷ lệ tai biến trong phẫu thuật thấp (1,5%).