info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh xạ hình SPECT tưới máu cơ tim ở bệnh nhân sau tái tưới máu động mạch vành

Năm2020
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH XẠ HÌNH SPECT TƯỚI MÁU CƠ TIM Ở BỆNH NHÂN SAU TÁI TƯỚI MÁU ĐỘNG MẠCH VÀNH

Ngành:

Nội tim mạch

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án “NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH XẠ HÌNH SPECT TƯỚI MÁU CƠ TIM Ở BỆNH NHÂN SAU TÁI TƯỚI MÁU ĐỘNG MẠCH VÀNH” của Lê Mạnh Hà, chuyên ngành Nội tim mạch, tập trung vào việc đánh giá các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh xạ hình SPECT tưới máu cơ tim (XHTMCT) ở bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành (ĐMV) mạn tính sau khi được tái tưới máu. Nghiên cứu cũng nhằm đánh giá sự biến đổi của hình ảnh XHTMCT trước và sau quá trình tái tưới máu ĐMV.

Các phương pháp tái tưới máu ĐMV như phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành (PTBCNCV) và can thiệp động mạch vành qua da (CTĐMVQD) được biết đến là giúp cải thiện chất lượng sống, giảm tỷ lệ tử vong và nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân (20-50% sau CTĐMVQD và 10-25% sau PTBCNCV) vẫn có triệu chứng đau ngực trong vòng 5 năm, đòi hỏi việc đánh giá và theo dõi liên tục. XHTMCT là một phương pháp chẩn đoán và tiên lượng có giá trị trong bệnh ĐMV, giúp phân biệt cơ tim bình thường với các tổn thương thiếu máu cục bộ hoặc sẹo cơ tim. Mặc dù việc sử dụng XHTMCT đang ngày càng tăng ở Việt Nam, các nghiên cứu chi tiết về đặc điểm và sự biến đổi hình ảnh XHTMCT ở bệnh nhân sau tái tưới máu ĐMV còn hạn chế.

Nghiên cứu được thực hiện trên 106 bệnh nhân ĐMV mạn tính (85 sau CTĐMVQD và 21 sau PTBCNCV) tại Viện Tim Mạch Quân Đội, Khoa Y học hạt nhân - Bệnh viện TƯQĐ 108 từ tháng 11/2011 đến tháng 05/2015. Đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình là 65,9 ± 10,4, đa số là nam giới (88,7%) và 97,6% có biểu hiện đau ngực (90,6% đau ngực không điển hình). Hầu hết bệnh nhân (79,2%) có ít nhất một yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu.

Kết quả cho thấy, 65,1% bệnh nhân có độ rộng khuyết xạ pha gắng sức (KXGS) ≥ 10% cơ tim thất trái và 19,8% có độ rộng khuyết xạ hồi phục (KXHP) ≥ 10% cơ tim thất trái. XHTMCT có khả năng phát hiện 88% các trường hợp hẹp ĐMV ≥ 70% với hệ số Kappa đồng thuận là 0,36. Khi so sánh kết quả XHTMCT trước và sau tái tưới máu, độ rộng KXGS trung bình giảm có ý nghĩa thống kê từ 19,8 ± 15,1% xuống 16,5 ± 11,9% (p < 0,01). Tương tự, độ rộng KXHP trung bình cũng giảm đáng kể từ 8,7 ± 6,8% xuống 5,5 ± 6,0% (p < 0,001). Mặc dù 13,2% bệnh nhân có XHTMCT bình thường và không còn khuyết xạ như trước tái tưới máu, 14,2% bệnh nhân lại xuất hiện thêm khuyết xạ mới.

Nghiên cứu kết luận rằng XHTMCT là công cụ quan trọng để phân tầng nguy cơ và định hướng điều trị cho bệnh nhân ĐMV sau tái tưới máu có nghi ngờ thiếu máu cơ tim cục bộ. Các bệnh nhân có độ rộng KXGS ≥ 10% và hiệu số độ rộng KXHP sau và trước tái tưới máu ĐMV ≥ 5% được xem là có nguy cơ biến cố tim mạch cao, cần được theo dõi chặt chẽ và điều trị tích cực.

Mục lục chi tiết:

Luận án này bao gồm 124 trang, được phân chia cấu trúc như sau:

  • Đặt vấn đề: 2 trang
  • Tổng quan: 36 trang
  • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 20 trang
  • Kết quả nghiên cứu: 31 trang
  • Bàn luận: 32 trang
  • Kết luận: 2 trang
  • Kiến nghị: 1 trang

Kèm theo là 168 tài liệu tham khảo, trong đó có 30 tài liệu tiếng Việt và 138 tài liệu tiếng Anh.

Tài liệu liên quan