NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, ĐIỆN SINH LÝ TIM VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ RUNG NHĨ BỀN BỈ BẰNG NĂNG LƯỢNG SÓNG CÓ TẦN SỐ RADIO
Nội khoa/Nội tim mạch
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điện sinh lý tim và kết quả điều trị rung nhĩ bền bỉ bằng năng lượng sóng có tần số radio" được thực hiện nhằm khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điện sinh lý tim ở bệnh nhân rung nhĩ bền bỉ và đánh giá kết quả điều trị sau 6 tháng. Nghiên cứu cũng nhằm xác định các rối loạn nhịp nhĩ khác, cơ chất đi kèm, đặc điểm điện sinh lý tim sau chuyển nhịp xoang, tỉ lệ thành công duy trì nhịp xoang và thay đổi triệu chứng lâm sàng, cũng như mối liên quan giữa tái phát sớm và thời gian chẩn đoán rung nhĩ với tỉ lệ thành công.
Rung nhĩ là một rối loạn nhịp phổ biến, gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng như tắc mạch, đột quỵ, suy tim và tử vong, có xu hướng tiến triển từ rung nhĩ cơn sang bền bỉ và mãn tính. Mặc dù can thiệp triệt đốt bằng năng lượng sóng có tần số radio đã có nhiều tiến bộ, tỉ lệ thành công duy trì nhịp xoang ở bệnh nhân rung nhĩ bền bỉ vẫn chưa cao như rung nhĩ cơn, đồng thời chi phí và thời gian thủ thuật còn là rào cản ở Việt Nam, khiến phương pháp này chưa được áp dụng rộng rãi.
Nghiên cứu được tiến hành trên 40 bệnh nhân rung nhĩ bền bỉ từ tháng 10/2017 đến 11/2021. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 54,25 ± 12,54, 80% là nam giới. Các yếu tố nguy cơ phổ biến nhất là tăng huyết áp (42,7%) và sử dụng nhiều rượu (37,5%). Triệu chứng thường gặp là hồi hộp (67,5%) và đau ngực (30%), ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt (mức EHRA IIb và III). 35% bệnh nhân có giãn nhĩ trái (đường kính ≥ 40mm). Về điện sinh lý tim, 100% bệnh nhân có kết nối điện học giữa nhĩ trái và tĩnh mạch phổi trên trái, dưới trái và trên phải, 90% có kết nối với tĩnh mạch phổi dưới phải. 30% bệnh nhân có các rối loạn nhịp hoặc cơ chất đặc biệt đi kèm như cuồng nhĩ, vùng điện thế thấp, ổ ngoại vị ngoài tĩnh mạch phổi, rotor, hạch giao cảm.
Sau can thiệp, tỉ lệ duy trì nhịp xoang trên Holter 24 giờ cao nhất ở thời điểm 3 tháng (68,2%), và sau 6 tháng là 60,7%. Nhóm bệnh nhân triệt đốt cô lập tĩnh mạch phổi kèm đốt thêm có tỉ lệ thành công duy trì nhịp xoang sau 6 tháng cao hơn đáng kể (75%) so với nhóm chỉ cô lập tĩnh mạch phổi đơn thuần (55%). Triệu chứng lâm sàng của nhóm thành công cải thiện rõ rệt, duy trì ở mức EHRA I. Các yếu tố liên quan đến tỉ lệ thành công bao gồm sự xuất hiện rung nhĩ trong giai đoạn sớm sau can thiệp là yếu tố dự báo thất bại, và thời gian phát hiện rung nhĩ dưới 12 tháng liên quan đến tỉ lệ thành công cao hơn. Mỗi năm tăng thêm thời gian phát hiện rung nhĩ làm xác suất tái phát sau can thiệp tăng 32,1%.
Từ đó, luận án kiến nghị can thiệp triệt đốt rung nhĩ bền bỉ bằng năng lượng sóng có tần số radio là phương pháp hiệu quả để duy trì nhịp xoang và nên được tiến hành trong vòng 1 năm đầu từ khi chẩn đoán để tối ưu hóa tỉ lệ thành công.