info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên Cứu Chọn Giống Và Biện Pháp Kỹ Thuật Gây Trồng Cây Dẻ Xanh (Lithocarpus Pseudosundaicus (Hickel Et A.camus) Camus) Tại Vĩnh Phúc Và Hòa Bình

Năm2018
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt

Mô tả tài liệu

Tên luận án: Nghiên cứu về cây Dẻ xanh và kỹ thuật trồng rừng

Ngành: Lâm nghiệp

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tập trung nghiên cứu về cây Dẻ xanh, một loài cây bản địa có tiềm năng kinh tế lớn trong ngành chế biến và xuất khẩu gỗ của Việt Nam. Ngành gỗ đã đạt kim ngạch xuất khẩu 7,3 tỷ USD năm 2016 và 8,0 tỷ USD năm 2017, cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển các loài cây gỗ có giá trị. Dẻ xanh được đánh giá cao nhờ biên độ sinh thái rộng, tốc độ sinh trưởng nhanh, gỗ cứng (tỷ trọng 0,52-0,75 g/cm3), ít cong vênh và khả năng chống chịu mối mọt tốt, phù hợp cho sản xuất đồ gỗ nội thất và gia dụng. Mặc dù có triển vọng lớn cho trồng rừng gỗ lớn, các nghiên cứu về loài cây này còn hạn chế.

Nội dung nghiên cứu của luận án bao gồm khảo sát đặc điểm lâm học, tính chất gỗ và các kỹ thuật gây trồng Dẻ xanh. Các mẫu đất được phân tích tại phòng thí nghiệm đất và môi trường thuộc Viện Nghiên cứu sinh thái và Môi trường rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Luận án đã tiến hành điều tra chi tiết đặc điểm cấu trúc lâm phần và loài Dẻ xanh trên 24 ô tiêu chuẩn tại 8 tỉnh. Về kỹ thuật trồng rừng, nghiên cứu đã bố trí các thí nghiệm về mật độ trồng (gồm 4 công thức từ 625 đến 1.666 cây/ha) và thí nghiệm bón phân (với 4 công thức khác nhau, bao gồm NPK và vi sinh Sông Gianh, và đối chứng).

Kết quả nghiên cứu cho thấy Dẻ xanh sinh trưởng tốt trên các loại đất feralit đỏ vàng có tầng dày, từ đất chua đến trung tính và thành phần cơ giới đất thịt trung bình. Luận án đã tuyển chọn 60 cây mẹ tại 4 địa điểm (Hà Nội, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Hòa Bình) để phục vụ khảo nghiệm xuất xứ. Sau 30 tháng trồng, tỷ lệ sống của Dẻ xanh ở các xuất xứ đạt cao (81,6-87,9%). Các xuất xứ từ Hòa Bình và Tuyên Quang cho sinh trưởng đường kính gốc và chiều cao vút ngọn tốt hơn đáng kể so với Vĩnh Phúc và Hà Nội. Tỷ lệ cây phẩm chất xấu rất thấp, chỉ dao động từ 3,7-9,4% ở cả 4 xuất xứ.

Về kỹ thuật trồng và làm giàu rừng, sau 39 tháng, các công thức mật độ trồng chưa ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ sống nhưng có tác động đến sinh trưởng đường kính gốc (D00) ở Hòa Bình và cả D00 lẫn chiều cao vút ngọn (Hvn) ở Vĩnh Phúc. Mật độ 1.666 cây/ha cho tỷ lệ sống cao nhất. Phân bón cũng tạo ra sự phân hóa lớn về chất lượng cây, với tỷ lệ bình quân cây có phẩm chất tốt đạt 48,1%. Nghiên cứu về chiều rộng rạch cho thấy công thức rạch chặt 3m, chừa 3m mang lại các chỉ tiêu sinh trưởng ban đầu tốt hơn so với công thức rạch chặt 5m, chừa 5m.

Mục lục chi tiết:

  • Phần mở đầu (5 trang).
  • Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (22 trang).
  • Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu (22 trang).
  • Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (74 trang).
  • Kết luận, tồn tại, kiến nghị (4 trang).

Tài liệu liên quan