NGHIÊN CỨU CHỈ ĐỊNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA XẺ VÒNG VAN ĐỘNG MẠCH PHỔI TRONG PHẪU THUẬT TỨ CHỨNG FALLOT
Ngoại lồng ngực
Luận án "Nghiên cứu chỉ định và ảnh hưởng của xẻ vòng van động mạch phổi trong phẫu thuật tứ chứng Fallot" tập trung vào một trong những bệnh tim bẩm sinh tím phổ biến nhất, Tứ chứng Fallot (ToF), chiếm 3-10% các trường hợp. Bệnh lý này đặc trưng bởi bốn dị tật: thông liên thất, động mạch chủ cưỡi ngựa, hẹp phễu/van động mạch phổi (ĐMP) và phì đại thất phải, dẫn đến giảm lưu lượng máu lên phổi và trộn máu từ thất phải sang thất trái. Mục tiêu chính của phẫu thuật sửa chữa toàn bộ ToF là khắc phục tất cả bốn dị tật, trong đó việc mở rộng đường thoát thất phải đóng vai trò then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả ngắn hạn và tiên lượng lâu dài. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu sự thống nhất về kỹ thuật mổ, đặc biệt là mức độ giải phóng chỗ hẹp.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố liên quan đến chỉ định xẻ vòng van ĐMP và ảnh hưởng của các kỹ thuật xẻ khác nhau đến kết quả trung hạn sau phẫu thuật sửa chữa toàn bộ ToF. Đối tượng nghiên cứu là 327 bệnh nhân ToF được phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ năm 2011 đến 2018. Đây là một nghiên cứu đoàn hệ, hồi cứu, phân chia bệnh nhân thành ba nhóm: bảo tồn vòng van ĐMP, xẻ giới hạn và xẻ rộng qua vòng van ĐMP. Các yếu tố như chỉ số Z của vòng van ĐMP, cân nặng, và vị trí lỗ thông liên thất được phân tích liên quan đến chỉ định xẻ, và kết quả được đánh giá ở các thời điểm ngay sau mổ, trước khi xuất viện, 6 tháng và 1 năm sau mổ.
Kết quả cho thấy phẫu thuật qua đường mở nhĩ phải và ĐMP mang lại kết quả sớm tốt với tỷ lệ tử vong thấp (1.2%) và ít biến chứng sớm. Tỷ lệ bảo tồn hoặc xẻ giới hạn vòng van ĐMP cao (82.1%) khi chỉ số Z vòng van ĐMP ≥ -2. Cân nặng, thời điểm phẫu thuật và vị trí lỗ thông liên thất không làm tăng nguy cơ xẻ vòng van ĐMP. Kỹ thuật bảo tồn vòng van ĐMP (50.5%) cho thấy biến chứng hở phổi và giãn tim phải ít nhất sau 1 năm. Ngược lại, 49.5% bệnh nhân cần xẻ vòng van ĐMP, làm kéo dài thời gian mổ, thở máy và hồi sức. Đặc biệt, nhóm xẻ rộng rãi qua vòng van ĐMP (29.3%) đến chỉ số Z + 2 có tỷ lệ hở phổi nặng cao nhất (71.7%) và giãn tim phải nhiều nhất (33.3%) sau 1 năm. Kỹ thuật xẻ giới hạn (20.2%) đã hạn chế được các biến chứng hở phổi, hở van ba lá, giãn tim phải mà không làm tăng hẹp phổi nặng tồn lưu. Nghiên cứu này đóng góp dữ liệu quan trọng từ Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của chỉ số Z và lợi ích của kỹ thuật xẻ giới hạn trong phẫu thuật ToF.