Tên luận án:
HỒI KÝ, TỰ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN THỂ LOẠI
Ngành:
VĂN HỌC VIỆT NAM (Mã số: 62 22 01 21), thuộc lĩnh vực NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM.
Tóm tắt nội dung tài liệu:
Luận án "Hồi ký, Tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại" của Nguyễn Thị Quỳnh Như nghiên cứu hai thể loại văn xuôi nghệ thuật đặc biệt này trong văn học Việt Nam hiện đại. Đề tài nhận định hồi ký và tự truyện là các thể loại hồi cố, tái hiện quá khứ, có giá trị và sự tương tác phức tạp, đồng thời ghi nhận sự bùng nổ và tầm ảnh hưởng của chúng trên văn đàn từ cuối thập niên 1990.
Nghiên cứu tiếp cận hồi ký, tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn thể loại, một mô hình mới trong khoa học xã hội nhân văn. Mục tiêu chính là làm rõ sự chi phối của mã thể loại đến diễn ngôn, từ đó xác định nội dung, tư tưởng và nghệ thuật tác phẩm qua mã tư tưởng và mã nghệ thuật. Luận án khảo sát các tác phẩm tiêu biểu của nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình thuộc ba giai đoạn (1900-1945, 1945-1975 và sau 1975), sử dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng như loại hình, liên ngành, hệ thống và so sánh.
Kết quả cho thấy, hồi ký và tự truyện là loại hình diễn ngôn chịu chi phối của hai mã cơ bản: "sự thật" và mã nghệ thuật. Mã "sự thật" làm nổi bật vai trò trung tâm của cái tôi tác giả – người kể chuyện, tái hiện đời sống cá nhân và biến cố lịch sử, xã hội. Trong hồi ký, "sự thật" chủ yếu là "ngoại quan" về bức tranh thời đại, còn trong tự truyện, nó là "nội quan" về cái tôi cá nhân. Mã nghệ thuật thể hiện qua điểm nhìn trần thuật đa dạng (ưu thế ngôi thứ nhất, dịch chuyển góc nhìn), kết cấu linh hoạt (biên niên, phân mảnh, đan cài) và giọng điệu phong phú (trữ tình hoài niệm, suy tư triết lý, tự thú, giễu nhại). Luận án cũng phân tích xu hướng giao thoa giữa phi hư cấu và hư cấu, với "hư cấu hóa" trong hồi ký và "phi hư cấu hóa" trong tự truyện. Đề tài góp phần làm sáng tỏ bản chất diễn ngôn và cung cấp tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam.
Mục lục chi tiết:
-
Mở đầu
-
Kết luận
-
Tài liệu tham khảo
-
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
- 1.1. Tình hình nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam
- 1.1.1. Nghiên cứu lý thuyết diễn ngôn
- 1.1.2. Nghiên cứu việc vận dụng diễn ngôn vào văn học Việt Nam
- 1.2. Tình hình nghiên cứu hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam
- 1.2.1. Nghiên cứu mang tính tổng quan
- 1.2.2. Nghiên cứu về tác giả, tác phẩm hồi ký, tự truyện tiêu biểu
-
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu hồi ký, tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn thể loại
- 2.1. Cơ sở lý luận
- 2.1.1. Một số vấn đề thể loại
- 2.1.1.1. Thể loại hồi ký
- 2.1.1.2. Thể loại tự truyện
- 2.1.1.3. Tương tác thể loại giữa hồi ký và tự truyện
- 2.1.2. Quan điểm nghiên cứu loại hình và các phương pháp truyền thống trong việc phân loại tác phẩm văn học
- 2.1.3. Quan điểm nghiên cứu văn học và thể loại văn học từ góc nhìn diễn ngôn
- 2.1.2.1. Tiếp cận diễn ngôn như là cấu trúc ngôn từ tĩnh
- 2.1.2.2. Tiếp cận diễn ngôn như là lời nói phong cách hoá mang tư tưởng hệ
- 2.1.2.3. Tiếp cận diễn ngôn như là một sản phẩm được kiến tạo từ các định chế xã hội gắn với quyền lực, tri thức, chân lý
- 2.2. Cơ sở thực tiễn
- 2.2.1. Khái quát hồi ký, tự truyện Việt Nam giai đoạn 1900 - 1945
- 2.2.2. Khái quát hồi ký, tự truyện Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975
- 2.2.3. Khái quát hồi ký, tự truyện Việt Nam giai đoạn sau 1975
- 2.3. Quan điểm nghiên cứu hồi kí tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn
- 2.3.1. Nhận thức về “sự thật”, “chân lý” trong hồi ký, tự truyện
- 2.3.1.1. Quan niệm về “sự thật”, “chân lý”
- 2.3.1.2. Quan niệm về “sự thật” trong hồi ký, tự truyện
- 2.3.2. Lằn ranh “phi hư cấu” - “hư cấu” trong hồi ký, tự truyện
- 2.3.2.1. Lằn ranh hình thành do những giới hạn chủ quan
- 2.3.2.2. Lằn ranh hình thành do những tác động khách quan
- 2.4. Định hướng xác lập mô hình nghiên cứu của luận án
-
Chương 3: Hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam nhìn từ mã tư tưởng của thể loại
- 3.1. Cái tôi tác giả - người kể chuyện: cái tôi chứng nhân về “sự thật” của quá khứ
- 3.1.1. Cái tôi hồi tưởng về tuổi thơ và các mối quan hệ gia đình
- 3.1.2. Cái tôi tự thú, đánh giá về chính mình
- 3.1.3. Cái tôi tài năng, tâm huyết với nghề
- 3.2. Bức tranh thời đại và bức chân dung về con người qua dòng hồi tưởng
- 3.2.1. Bức tranh đời sống xã hội trong quá khứ qua những biến thiên lịch sử
- 3.2.1.1. Bức tranh xã hội trước cách mạng tháng Tám 1945
- 3.2.1.2. Bức tranh xã hội qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
- 3.2.1.3. Hiện thực xã hội trong thời kỳ hậu chiến
- 3.2.1.4. Bức tranh văn nghệ qua thăng trầm lịch sử
- 3.2.2. Những bức vẽ chân dung bằng hữu qua hồi tưởng
- 3.3. Một số biểu hiện khác biệt về mã tư tưởng - “sự thật” giữa hồi kí và tự truyện
- 3.3.1. “Sự thật” trong thể hồi ký - sự thật “ngoại quan”
- 3.3.2. “Sự thật” trong thể tự truyện - sự thật “nội quan”
-
Chương 4: Hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam nhìn từ mã nghệ thuật của thể loại
- 4.1. Điểm nhìn trần thuật đa dạng trong cấu trúc diễn ngôn hồi ký, tự truyện
- 4.1.1. Ưu thế của điểm nhìn chủ quan từ người kể chuyện ngôi thứ nhất
- 4.1.2. Xu hướng đa dạng hóa góc nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất
- 4.1.3. Điểm nhìn chủ quan từ người kể chuyện ngôi thứ ba
- 4.2. Kết cấu linh hoạt trong diễn ngôn hồi ký, tự truyện
- 4.2.1. Kết cấu theo trật tự biên niên
- 4.2.2. Kết cấu phân mảnh
- 4.2.3. Kết cấu đan cài tuyến truyện
- 4.3. Sự phong phú về giọng điệu trong kiến tạo diễn ngôn
- 4.3.1. Giọng trữ tình, hoài niệm
- 4.3.2. Giọng suy tư, triết lý
- 4.3.3. Giọng hài hước, giễu nhại
- 4.4. Xu hướng giao thoa giữa phi hư cấu và hư cấu trong hồi kí, tự truyện
- 4.4.1. Lực hút từ hai phía hồi ký, tự truyện
- 4.4.2. Xu hướng “hư cấu hóa” trong hồi ký
- 4.4.3. Xu hướng “phi hư cấu hóa” trong tự truyện