Nghiên cứu về tác động của quy mô đến hiệu quả tài chính của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam
Không được đề cập rõ ràng trong tài liệu.
Luận án này tập trung nghiên cứu sự khác biệt trong hoạt động và hiệu quả tài chính của các Ngân hàng Thương mại (NHTM) tại Việt Nam theo quy mô, một chủ đề được đánh giá là cấp thiết nhưng còn ít được khai thác trong bối cảnh trong nước. Đề tài xuất phát từ nhận định rằng quy mô ngân hàng là nhân tố quan trọng giải thích sự khác biệt về chính sách sản phẩm (tính kinh tế nhờ phạm vi), cạnh tranh (thị phần, tạo thanh khoản) và quản trị rủi ro (hiệu ứng "quá lớn để đổ vỡ"). Bối cảnh NHTM Việt Nam hiện vẫn còn nhỏ so với thế giới, phụ thuộc vào thu nhập nội địa và sản phẩm hạn chế, càng làm nổi bật tính cấp thiết của nghiên cứu này.
Mục tiêu chính của luận án là đánh giá sự khác biệt trong tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của NHTM tại các ngưỡng quy mô xác định hoặc được xác định. Nghiên cứu đặt ra 9 câu hỏi xoay quanh tác động của quy mô, mức độ tập trung tổng tài sản ngành, so sánh hiệu quả giữa hai nhóm NHTM được phân loại theo mức tổng tài sản 100.000 tỷ VNĐ, và sự thay đổi tác động của các nhân tố như vốn chủ sở hữu, rủi ro thanh khoản, thu nhập lãi cận biên và ngoài lãi khi vượt qua các ngưỡng quy mô. Đối tượng nghiên cứu là 30 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2017.
Luận án sử dụng dữ liệu bảng với hai cách tiếp cận: (i) phân nhóm NHTM theo quy định pháp luật (ngưỡng 100.000 tỷ VNĐ tổng tài sản) và (ii) sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng dữ liệu bảng (Panel Threshold Regression - PTR) để tự xác định các ngưỡng quy mô. Các biến nghiên cứu chính bao gồm ROA/ROE (biến phụ thuộc) và các biến đặc điểm ngân hàng, ngành, kinh tế vĩ mô (biến độc lập).
Kết quả cho thấy tác động của quy mô đến hiệu quả tài chính có sự khác biệt giữa các nhóm nhưng thường nhỏ. Mức độ tập trung ngành tác động tiêu cực đến ROA nhưng tích cực đến ROE. Các NHTM lớn có ROE cao hơn nhưng ROA thấp hơn các NHTM nhỏ. Đặc biệt, nghiên cứu đã xác định được các ngưỡng tổng tài sản (khoảng 556.265 tỷ VNĐ và 621.008 tỷ VNĐ) tại đó tác động của các nhân tố như quy mô, vốn chủ sở hữu, rủi ro thanh khoản, thu nhập lãi cận biên và thu nhập ngoài lãi đến ROA thay đổi đáng kể. Các NHTM quy mô lớn cho thấy lợi thế về giá trên cả thị trường lãi và ngoài lãi, cũng như lợi ích từ việc tăng cường vốn chủ sở hữu.
Luận án đóng góp vào việc kiểm định các lý thuyết về mối quan hệ giữa quy mô và hiệu quả tài chính, cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho Việt Nam và khai phá hiệu ứng ngưỡng. Nghiên cứu cũng chỉ ra các hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Câu hỏi I: Quy mô và mức độ tập trung tổng tài sản ngành có tác động như thế nào đến hiệu quả tài chính của các NHTM ?
Câu hỏi II: So sánh hiệu quả tài chính giữa hai nhóm NHTM được phân loại theo mức tổng tài sản 100.000 tỷ VNĐ.
Câu hỏi III: So sánh tác động của các nhân tố đặc điểm của NHTM, nhân tố ngành, các nhân tố kinh tế vĩ mô đến hiệu quả tài chính giữa hai nhóm NHTM được phân loại theo mức tổng tài sản 100.000 tỷ VNĐ.
Câu hỏi IV: Tác động của quy mô đến hiệu quả tài chính thay đổi như thế nào giữa các ngưỡng quy mô ?
Câu hỏi V: Tác động của vốn chủ sở hữu đến hiệu quả tài chính thay đổi như thế nào giữa các ngưỡng quy mô ?
Câu hỏi VI: Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả tài chính thay đổi như thế nào giữa các ngưỡng quy mô ?
Câu hỏi VII: Tác động của thu nhập lãi cận biên đến hiệu quả tài chính thay đổi như thế nào giữa các ngưỡng quy mô ?
Câu hỏi VIII: Tác động của thu nhập ngoài lãi cận biên đến hiệu quả tài chính thay đổi như thế nào giữa các ngưỡng quy mô ?
Câu hỏi IX: Vai trò của thu nhập từ lãi cận biên và thu nhập ngoài lãi cận biên đến hiệu quả tài chính thay đổi như thế nào giữa các ngưỡng quy mô ?