Giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non
Không được nêu rõ trực tiếp trong văn bản.
Luận án tập trung nghiên cứu về việc giáo dục tính tự lập (TL) cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi, đặc biệt thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày (CĐSHHN) tại trường mầm non. Đề tài khẳng định tính tự lập là một phẩm chất nhân cách quan trọng, được hình thành từ lứa tuổi mầm non và phát triển thông qua việc tự ý thức về bản thân cùng nhu cầu tự hoạt động của trẻ. Tính tự lập được định nghĩa là khả năng cá nhân tự đưa ra và thực hiện quyết định không phụ thuộc vào người khác, luôn cố gắng nỗ lực và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của bản thân để thực hiện mục đích đề ra.
Mục đích nghiên cứu là khảo sát thực trạng giáo dục tính tự lập và từ đó đề xuất các biện pháp phù hợp. Giả thuyết khoa học cho rằng trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi đã có mong muốn được tự làm một số việc trong sinh hoạt hàng ngày, và kết quả giáo dục tính tự lập của trẻ sẽ cao hơn khi giáo viên (GV) lựa chọn các biện pháp tối ưu để tổ chức CĐSHHN theo hướng khai thác ưu thế của các hoạt động (ăn, ngủ, chơi, học…), đồng thời phát huy mối quan hệ chặt chẽ giữa các hoạt động trong một ngày của trẻ, kích thích trẻ bộc lộ nhu cầu và mong muốn được tự làm.
Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp khảo sát thực trạng bao gồm điều tra bằng phiếu hỏi, quan sát và phỏng vấn. Các tiêu chí đánh giá tính tự lập của trẻ bao gồm: bộc lộ nhu cầu, mong muốn tự làm qua lời nói, hành động; thể hiện sự vui vẻ, yêu thích khi được tự làm; tập trung trong hoạt động, không bỏ dở công việc khi chưa làm xong; và tự đưa ra quyết định (về nhận thức). Thực nghiệm được tiến hành trên 60 trẻ thuộc lớp 3 - 4 tuổi tại trường Mầm non Thực Hành, Đại học Hồng Đức, Thành phố Thanh Hóa, với 30 trẻ thuộc nhóm thực nghiệm (TN) và 30 trẻ thuộc nhóm đối chứng (ĐC) nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp.
Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non được khảo sát chưa cao, chủ yếu tập trung ở mức độ trung bình (49.2%) và thấp (45.8%), với chỉ 5% trẻ đạt mức độ cao. Sau thực nghiệm, các biện pháp được áp dụng như tạo môi trường thuận tiện, an toàn; lên kế hoạch hoạt động để tạo động lực và cảm xúc thành công; giao nhiệm vụ và tăng dần độ khó đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Tỉ lệ trẻ nhóm TN đạt mức độ cao tăng từ 16.6% lên 43.3% (tăng 26.7%), trong khi mức độ thấp giảm từ 53.4% xuống 23.3%. Điểm trung bình cộng của nhóm TN sau thực nghiệm đạt 5.6, tăng đáng kể so với trước thực nghiệm (4.3), cho thấy sự chênh lệch lớn và hiệu quả của các biện pháp trong việc thỏa mãn nhu cầu tự lựa chọn, tự làm của trẻ.