EVALUATION OF GAS EMISSION (N2O AND CH4) ON TWO MODELS OF RICE CULTIVATION
Soil science (Mã ngành: 9620103)
Luận án tiến sĩ tập trung vào việc đánh giá phát thải khí nhà kính (N2O và CH4) từ hai mô hình canh tác lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam, một khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2015 đến 2017 tại Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long và huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ, nhằm mục tiêu xác định các biện pháp quản lý phù hợp để giảm thiểu phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa, đồng thời đảm bảo năng suất và an ninh lương thực.
Nghiên cứu bao gồm 9 thí nghiệm, tập trung vào ba khía cạnh chính: các biện pháp quản lý nước, xử lý rơm rạ sau thu hoạch và hệ thống luân canh/độc canh lúa. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng giống lúa OM5451, IR50404 và sắc ký khí (SRI 8610C) để đo lường khí phát thải.
Kết quả cho thấy, mô hình quản lý nước ngập nông (0-5 cm) đã giảm đáng kể lượng phát thải CH4 (28.3 - 38.0% thấp hơn) và tổng tiềm năng nóng lên toàn cầu (GWP, kgCO2e/ha/năm) giảm 27.9% so với phương pháp canh tác thông thường, mà không làm tăng phát thải N2O. Đối với các mô hình xử lý rơm rạ, phát thải CH4 dao động từ 127 - 160 kg/ha, trong đó biện pháp vùi gốc rạ làm tăng phát thải CH4 20.6% so với đốt rơm rạ. Tuy nhiên, tổng phát thải khí nhà kính (kgCO2e/ha) qua 2 vụ giữa các mô hình xử lý rơm rạ không có sự khác biệt đáng kể.
Về hệ thống canh tác, mô hình luân canh lúa - vừng cho thấy tổng phát thải khí nhà kính (kgCO2e/ha/năm) thấp hơn 20.6% so với mô hình độc canh 3 vụ lúa, trong khi vẫn duy trì năng suất ổn định. Phát thải N2O sau bón phân cao nhất ở mô hình luân canh trong vụ Hè Thu 2016 (65.6% tổng phát thải N2O/vụ).
Từ những kết quả này, luận án đề xuất áp dụng mô hình quản lý nước ngập nông (0-5 cm) và mô hình luân canh lúa - cây họ đậu để giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện chất lượng đất và đóng góp vào mục tiêu sản xuất nông nghiệp bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu.