info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Đánh giá ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật trên ruộng lúa và các sông, rạch chính tại tỉnh Hậu Giang.

Năm2018
Lĩnh vựcCông nghệ kỹ thuật
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

ĐÁNH GIÁ Ô NHIỄM THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRÊN RUỘNG LÚA VÀ CÁC SÔNG RẠCH CHÍNH TẠI TỈNH HẬU GIANG

Ngành:

Môi trường Đất và Nước (Mã ngành: 9 44 03 03)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ "Đánh giá ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật trên ruộng lúa và các sông rạch chính tại tỉnh Hậu Giang" được thực hiện từ năm 2011 đến 2016 nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tại các thủy vực và mối liên hệ với động vật đáy. Nghiên cứu được tiến hành trong bối cảnh sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam gia tăng đáng kể, với dư lượng cao của các hoạt chất như fipronil, fenobucarb, cypermethrin, propiconazole và quinalphos đã được ghi nhận trong đất và nước ở nhiều tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh và sức khỏe cộng đồng.

Mục tiêu chính của luận án là nghiên cứu dư lượng thuốc BVTV trong nước, đất ruộng lúa và bùn đáy trên kênh nội đồng, các sông, rạch để đánh giá mức độ ô nhiễm và mối tương quan với động vật đáy, đồng thời xác định chỉ số SPEARpesticides để phản ánh tình trạng rủi ro của thủy vực. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các khu vực canh tác lúa 3 vụ/năm và 2 vụ/năm tại ba huyện Long Mỹ, Vị Thủy, Phụng Hiệp thuộc tỉnh Hậu Giang, với điểm tham chiếu là rạch Mái Dầm không canh tác lúa.

Kết quả cho thấy dư lượng thuốc BVTV trong nước giảm dần từ ruộng lúa (0,06 – 4,55 µg/L), kênh nội đồng (0,02 – 1,6 µg/L) đến sông, rạch (0,02 – 0,42 µg/L), với cypermethrin không được phát hiện trong nước. Nồng độ dư lượng propiconazole, quinalphos, fipronil và fenobucarb cao hơn ở khu vực lúa 3 vụ/năm và có xu hướng tăng theo thời vụ từ Đông-Xuân đến Hè-Thu và Thu-Đông. Đặc biệt, quinalphos và fenobucarb đã vượt ngưỡng gây ảnh hưởng đến động vật đáy (≥0,1 µg/L) và ngưỡng gây độc cấp tính (EC50= 0,6 µg/L) tại một số điểm. Dư lượng thuốc BVTV trên sông, rạch đã vượt quy chuẩn Châu Âu về chất lượng nước uống (0,1 µg/L).

Trong đất và bùn đáy, dư lượng thuốc BVTV cũng cao nhất ở ruộng lúa (6,78 – 179,34 µg/Kg), giảm dần ở kênh nội đồng (5,38 – 145,23 µg/Kg) và thấp nhất trên sông, rạch (4,59 – 86,18 µg/Kg). Thành phần loài động vật đáy giảm từ sông, rạch (43 loài) đến kênh nội đồng (32 loài) và ruộng lúa (15 loài). Chỉ số đa dạng Shannon-Wienner (H’) cho thấy môi trường nước trên ruộng lúa và kênh nội đồng thường xuyên nằm trong tình trạng ô nhiễm đến ô nhiễm nhẹ. Chỉ số SPEARpesticides trên sông, rạch (25,31) cao hơn kênh nội đồng (8,34), cho thấy kênh nội đồng có số lượng động vật đáy không bị rủi ro chiếm ưu thế, trong khi sông rạch có sự chênh lệch không đáng kể giữa các họ động vật đáy bị và không bị rủi ro. Dư lượng thuốc BVTV trong đất, bùn đáy tương quan thuận với hàm lượng chất hữu cơ và phần trăm cấp hạt sét+limon.

Luận án cung cấp dữ liệu quan trọng về tình hình ô nhiễm thuốc BVTV, làm cơ sở cho công tác quan trắc và quản lý môi trường, đồng thời đề xuất nghiên cứu tiếp theo về đồng vị và mô hình hóa sự lan truyền thuốc BVTV.

Tài liệu liên quan