info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Đánh giá kết quả điều trị phối hợp cisplatin liều thấp và xạ trị điều biến liều bệnh ung thư vòm họng giai đoạn IIB-III

Năm2023
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP CISPLATIN LIỀU THẤP VÀ XẠ TRỊ ĐIỀU BIẾN LIỀU BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG GIAI ĐOẠN IIB-III

Ngành:

Ung thư

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ y học này, do Phạm Lâm Sơn thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2023, chuyên ngành Ung thư, tập trung đánh giá kết quả điều trị ung thư biểu mô vòm mũi họng (UTVH) giai đoạn IIB-III bằng phác đồ phối hợp cisplatin liều thấp hàng tuần và xạ trị điều biến liều (IMRT) tại Bệnh viện K.

UTVH là ung thư đầu cổ phổ biến tại Việt Nam. Xạ trị truyền thống gây nhiều độc tính. Hóa xạ trị đồng thời với cisplatin, dù tăng kiểm soát u, vẫn đi kèm độc tính nghiêm trọng. Nghiên cứu trước đó tại Bệnh viện K chỉ ra IMRT kết hợp cisplatin liều thấp hàng tuần có khả năng dung nạp tốt và giảm biến chứng cấp. Luận án này là công trình đầu tiên tại Việt Nam áp dụng phác đồ này cho UTVH giai đoạn IIB-III, nhằm đánh giá hiệu quả điều trị và các độc tính liên quan. Nghiên cứu giải quyết hai mục tiêu chính: kết quả điều trị (tỷ lệ tuân thủ, đáp ứng, sống thêm 3 năm) và tính an toàn của phác đồ (độc tính cấp và mạn), đồng thời xác định các yếu tố tiên lượng.

Nghiên cứu được tiến hành trên 68 bệnh nhân UTVH giai đoạn IIB-III từ 01/2017 đến 04/2022. Các thể tích xạ trị mục tiêu nhận liều cao hơn chỉ định, cơ quan nguy cấp nhận liều thấp hơn khuyến cáo. 77,9% bệnh nhân hoàn thành 6 chu kỳ hóa xạ trị đồng thời. 100% bệnh nhân có chỉ số EBV-DNA âm tính sau điều trị. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ là 100% (97,1% hoàn toàn, 2,9% một phần). Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình 34,4 ± 9,2 tháng (tỷ lệ 3 năm là 84,1%), và sống thêm không bệnh trung bình 33,0 ± 10,7 tháng (tỷ lệ 3 năm là 80,7%). Các yếu tố như tình trạng thể chất sau điều trị, thể tích khối u ban đầu, và gián đoạn điều trị có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả sống thêm. Tái phát tại u (7,4%), hạch (4,4%) và di căn xa (xương, phổi, gan, não) cũng được ghi nhận.

Về độc tính, không có bệnh nhân nào gặp biến chứng cấp độ 4 hoặc tử vong do độc tính cấp. Rất ít biến chứng cấp độ 3 (giảm bạch cầu, viêm gan B cấp, tiêu chảy, rụng tóc). Đối với độc tính mạn, không có biến chứng độ 4, và chỉ một số ít biến chứng độ 3 (niêm mạc miệng 1,5%, tuyến nước bọt 2,9%). Khô miệng và khít hàm là các độc tính mạn phổ biến nhưng ở mức độ nhẹ đến vừa. Luận án khuyến nghị áp dụng xạ trị IMRT thường quy hơn để tối ưu hóa kiểm soát bệnh và giảm độc tính, nâng cao chất lượng sống bệnh nhân.

Mục lục chi tiết:

  • Đặt vấn đề: 2 trang
  • Tổng quan tài liệu: 35 trang
  • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 18 trang
  • Kết quả nghiên cứu: 29 trang
  • Bàn luận: 42 trang
  • Kết luận: 2 trang
  • Kiến nghị: 1 trang

Tài liệu liên quan