Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Hoàng Đức Thái
Luận án Đánh giá kết quả điều trị gãy mâm chày loại V-VI theo Schatzker bằng kết hợp xương tối thiểu và cố định ngoài dạng vòng dưới màn tăng sáng
Chuyên ngành: Y tế - Sức khoẻ
Luận án
2016
1Đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Đăng nhập ngayMục lục
1. Lời nói đầu .......................... 3
2. Chương 1: Giới thiệu ............ 7
3. Chương 2: Nội dung nghiên cứu .. 28
4. Kết luận ................................ 70
“Đánh giá kết quả điều trị gãy mâm chày loại V-VI theo Schatzker bằng kết hợp xương tối thiểu và cố định ngoài dạng vòng dưới màn tăng sáng”
Chấn thương chỉnh hình và tạo hình Mã số: 62720129
Luận án này tập trung vào việc đánh giá kết quả điều trị gãy mâm chày loại V-VI theo Schatzker bằng phương pháp kết hợp xương tối thiểu và cố định ngoài dạng vòng dưới màn tăng sáng. Phương pháp nắn mâm chày trên bàn chỉnh hình với C-arm hỗ trợ kiểm tra đã chứng minh được hiệu quả cao trong việc phục hồi giải phẫu. Cụ thể, tỷ lệ đạt tiêu chuẩn lún mặt khớp mâm chày ngoài ≤ 3mm là 97%, mặt khớp mâm chày trong ≤ 3mm là 100%. Độ tăng bề rộng mâm chày đạt tiêu chuẩn di lệch ≤ 3mm ở 98% trường hợp, và góc chày đùi đạt khác biệt 0o-5o so với chân lành ở 100% bệnh nhân. Kết quả liền xương đạt 100% với thời gian trung bình 16.2 ± 1.8 tuần. Các kết quả nắn chỉnh mâm chày được duy trì ổn định qua các thời điểm 6 tháng và 12 tháng sau mổ, chỉ ghi nhận di lệch thứ phát rất ít ở độ lún mâm chày ngoài và góc chày đùi.
Về kết quả chức năng tại thời điểm 12 tháng sau mổ, biên độ gấp gối trung bình là 125.0o ± 10.0o. Điểm khớp gối trung bình đạt 86.8 ± 6.2 điểm, với 88.9% bệnh nhân đạt loại rất tốt và tốt. Điểm chức năng trung bình là 82.8 ± 7.6 điểm, với 83.8% bệnh nhân đạt loại rất tốt và tốt. Phương pháp này cũng được đánh giá là an toàn cho gãy mâm chày phức tạp loại V-VI, với tỷ lệ biến chứng thấp và không để lại hậu quả nặng nề. Các biến chứng bao gồm nhiễm trùng chân đinh (20.2%), co ngắn gân gót (9.1%), di lệch thứ phát (4.0%) và can lệch (5.1%).
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tại thời điểm khám cuối (trung bình 45.5 ± 8.5 tháng sau phẫu thuật), tỷ lệ thoái hóa khớp gối chân gãy là 46.5%. Điểm khớp gối và điểm chức năng của bệnh nhân đều giảm có ý nghĩa thống kê so với thời điểm 12 tháng. Các yếu tố nguy cơ của thoái hóa khớp gối bao gồm tuổi bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên, gãy loại VI, lún mâm chày ngoài sau mổ, và tăng bề rộng mâm chày trên bình diện mặt sau mổ. Do đó, để giảm thiểu tình trạng thoái hóa khớp sau điều trị gãy mâm chày loại V-VI theo Schatzker, việc phục hồi hoàn toàn mặt khớp và không chấp nhận di lệch sau mổ, dù rất nhỏ, là cực kỳ quan trọng.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên