ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÁC ĐỒ HOÁ CHẤT 4AC – 4P LIỀU DÀY TRONG ĐIỀU TRỊ BỔ TRỢ UNG THƯ VÚ
Ung thư
Luận án tiến sĩ y học này tập trung đánh giá hiệu quả và độc tính của phác đồ hóa trị bổ trợ 4AC – 4P liều dày trong điều trị ung thư vú giai đoạn II và III. Đây là một nghiên cứu quan trọng trong bối cảnh ung thư vú là bệnh lý phổ biến và hóa trị bổ trợ đóng vai trò thiết yếu trong việc tiêu diệt vi di căn, kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân. Mặc dù phác đồ hóa trị liều dày đã được chứng minh hiệu quả và tính an toàn, việc ứng dụng lâm sàng tại Việt Nam còn hạn chế.
Nghiên cứu được tiến hành theo thiết kế tiến cứu, can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 152 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III đã phẫu thuật, với thời gian theo dõi trung bình 37 tháng. Kết quả cho thấy phác đồ mang lại hiệu quả điều trị tích cực. Trung vị thời gian sống thêm không bệnh (DFS) ước tính là 39,2 tháng, với tỷ lệ sống thêm không bệnh 1, 2 và 3 năm lần lượt đạt 100%, 98,7% và 97,4%. Trung vị thời gian sống thêm toàn bộ (OS) ước tính là 40,2 tháng, với tỷ lệ tương ứng là 100%, 100% và 99,3%.
Thời gian sống thêm không bệnh có liên quan có ý nghĩa thống kê với giai đoạn bệnh (giai đoạn II: 41,5 tháng; giai đoạn III: 38,6 tháng, p=0,033), tình trạng thụ thể nội tiết (dương tính: 42 tháng; âm tính: 38,3 tháng, p=0,042) và tình trạng thụ thể Her2 (âm tính: 42 tháng; dương tính: 37,9 tháng, p=0,047). Tuy nhiên, không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi và độ mô học.
Về độc tính, phác đồ được đánh giá là chấp nhận được. Tỷ lệ hạ bạch cầu độ 3-4 là 13,8%, hạ bạch cầu đa nhân trung tính độ 3-4 là 6,4%, và sốt hạ bạch cầu 4,9%. Không ghi nhận hạ huyết sắc tố hoặc hạ tiểu cầu độ 3-4. Các độc tính ngoài hệ tạo huyết độ 3 hiếm gặp, bao gồm mệt (3%), nôn (2%), tiêu chảy (0,7%) và đau cơ (0,5%), và không có trường hợp độc tính độ 4 ngoài hệ tạo huyết.
Luận án kết luận phác đồ 4AC-4P liều dày có hiệu quả về lợi ích sống thêm và độc tính chấp nhận được, khuyến nghị áp dụng rộng rãi, đặc biệt cho nhóm bệnh nhân có thể trạng tốt, tuổi trẻ và yếu tố nguy cơ cao. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất cần tiếp tục theo dõi hiệu quả lâu dài của phác đồ.