Đánh giá hiệu quả của nilotinib trên người bệnh bạch cầu mạn dòng tủy giai đoạn mạn kháng hay không dung nạp với imatinib
Y học
Công trình nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội, tập trung vào bệnh bạch cầu mạn dòng tủy (BCMDT), một bệnh lý huyết học phổ biến đặc trưng bởi sự tăng sinh mất kiểm soát của dòng bạch cầu hạt do đột biến Philadelphia (NST Ph) và gen BCR-ABL. Mặc dù imatinib đã cách mạng hóa điều trị BCMDT, khoảng 27% người bệnh phát triển đề kháng và một số không dung nạp thuốc, dẫn đến nguy cơ tiến triển nặng nề và khó kiểm soát. Do đó, việc kiểm soát nhóm người bệnh này đặt ra thách thức lớn tại Việt Nam.
Nghiên cứu này “Đánh giá hiệu quả của nilotinib trên người bệnh bạch cầu mạn dòng tủy giai đoạn mạn kháng hay không dung nạp với imatinib” được thực hiện nhằm ba mục tiêu chính: mô tả đặc điểm lâm sàng và sinh học của người bệnh kháng hay không dung nạp imatinib; đánh giá đáp ứng về huyết học, di truyền tế bào, sinh học phân tử và thời gian sống còn sau điều trị nilotinib; và xác định tỷ lệ các độc tính. Nghiên cứu bước đầu tại Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học TP.HCM cho thấy nilotinib mang lại kết quả khả quan với tỷ lệ đạt đáp ứng huyết học và di truyền tế bào lần lượt là 95% và 74%.
Về mặt bệnh học, BCMDT là một rối loạn tăng sinh tủy xương, tiến triển qua ba giai đoạn: mạn, tiến triển và chuyển cấp. Chẩn đoán xác định dựa vào huyết đồ, tủy đồ và đặc biệt là sự hiện diện của NST Ph. Các tiêu chuẩn đáp ứng điều trị bao gồm đáp ứng huyết học hoàn toàn (CHR), đáp ứng di truyền tế bào (CCyR, PCyR, MCyR) và đáp ứng sinh học phân tử (CMR, MMR). Đề kháng imatinib được chia thành nguyên phát và thứ phát, với các cơ chế phụ thuộc và không phụ thuộc BCR-ABL. Không dung nạp thuốc được định nghĩa là tác dụng phụ không kiểm soát được.
Nilotinib là thuốc ức chế tyrosin kinase thế hệ hai, gắn kết mạnh mẽ hơn với protein BCR-ABL gấp 10-50 lần so với imatinib. Nghiên cứu này là một nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, tiến cứu, với 112 người bệnh (93 kháng imatinib, 19 không dung nạp). Phác đồ điều trị sử dụng nilotinib liều 400 mg x 2 lần/ngày. Các kỹ thuật xét nghiệm bao gồm huyết tủy đồ, giải trình tự gen và kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH). Các tiêu chuẩn đánh giá kháng imatinib dựa theo khuyến cáo của ELN 2013.