ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ SỐ CHẤT L- ỢNG ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS SAU LỒNG GHÉP QUẢN LÝ CHẤT L- ỢNG ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS VÀO HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TẠI MỘT SỐ TỈNH NĂM 2016-2018
Y tế công cộng
Luận án này, được thực hiện bởi Đoàn Thị Thuỳ Linh tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2021, thuộc chuyên ngành Y tế công cộng, tập trung vào việc đánh giá chất lượng điều trị HIV/AIDS. Nghiên cứu ra đời trong bối cảnh các phòng khám ngoại trú (PKNT) điều trị HIV/AIDS đã được sát nhập vào hệ thống bệnh viện hoặc Trung tâm Y tế hai chức năng từ năm 2016-2018, chuyển từ mô hình được dự án hỗ trợ sang khám chữa bệnh thông qua bảo hiểm y tế (BHYT). Sự thay đổi này đặt ra câu hỏi về tác động đến chất lượng điều trị HIV/AIDS.
Mục tiêu chính của luận án là mô tả thực trạng các chỉ số cung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS và đánh giá kết quả chất lượng điều trị HIV/AIDS cùng các yếu tố liên quan sau khi sát nhập PKNT tại ba tỉnh Sơn La, Cần Thơ, An Giang trong giai đoạn 2016-2018.
Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc cung cấp dữ liệu điều trị HIV/AIDS sau khi sát nhập PKNT vào bệnh viện, từ đó tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng các định hướng chính sách nhằm duy trì và tăng cường chất lượng điều trị. Luận án cũng một lần nữa chứng minh hiệu quả của mô hình quản lý chất lượng HIVQUAL trong việc cải thiện và duy trì chất lượng dịch vụ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau sát nhập, các chỉ số cung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS nhìn chung được duy trì và cải thiện. Đặc biệt, tỷ lệ xét nghiệm tải lượng HIV và tỷ lệ bệnh nhân ức chế tải lượng HIV tăng, đồng thời tỷ lệ tuân thủ điều trị, tái khám đúng hẹn và sàng lọc lao được cải thiện và duy trì. Thời gian chờ điều trị ARV giảm đáng kể từ 7 ngày năm 2016 xuống còn 0 ngày năm 2018. Thời gian từ khi bắt đầu điều trị đến khi được chỉ định xét nghiệm tải lượng HIV cũng giảm từ 16 tháng năm 2016 xuống 6 tháng năm 2018. Tuy nhiên, độ bao phủ xét nghiệm CD4 và tải lượng HIV vẫn còn thấp ở nhóm bệnh nhân mới bắt đầu điều trị ARV, và tỷ lệ điều trị dự phòng lao bằng INH cần tiếp tục được cải thiện.
Về chất lượng điều trị, các PKNT sau sát nhập đạt kết quả tốt về ức chế tải lượng HIV, với tỷ lệ bệnh nhân ức chế tải lượng HIV (dưới 1000 và dưới 200 bản sao/ml máu) tăng từ 94-95,6%. Thời gian đạt ức chế tải lượng HIV giảm từ 17 tháng năm 2016 xuống 6 tháng năm 2018. Các yếu tố như kết quả CD4 lúc bắt đầu điều trị, điều trị dự phòng Cotrimoxazole (CTX) và Isoniazid (INH), cùng với thời gian chờ điều trị ARV dưới 15 ngày, đều liên quan đến khả năng đạt ức chế tải lượng HIV sớm hơn. Đặc biệt, điều trị dự phòng lao bằng INH cho thấy khả năng ức chế tải lượng HIV cao hơn đáng kể.
Từ những kết quả này, luận án đưa ra các khuyến nghị như tiếp tục duy trì và đánh giá HIVQUAL, tăng cường phối hợp để bệnh nhân tiếp cận sớm ARV, mở rộng xét nghiệm tải lượng HIV và điều trị dự phòng lao bằng INH, đồng thời tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vai trò của INH.