info@luanan.net.vn
VIP Luận án PDF

Luận án Đặc điểm Dịch tễ của Bệnh sốt xuất huyết Dengue tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai từ năm 2008 – 2012 và kết quả của một số giải pháp can thiệp

Năm2020
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt
Xem trước tài liệu
Đang tải...

Đang tải tài liệu...

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012 VÀ KẾT QUẢ CỦA MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP

Ngành:

Y TẾ CÔNG CỘNG

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ này, với tiêu đề "ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012 VÀ KẾT QUẢ CỦA MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP," tập trung vào nghiên cứu dịch tễ học và các giải pháp can thiệp đối với bệnh Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. SXHD là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi-rút Dengue gây ra, truyền qua côn trùng trung gian, đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng trên toàn cầu, đặc biệt tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, với Việt Nam là một trong năm quốc gia có gánh nặng bệnh cao nhất.

Nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu chính: mô tả đặc điểm dịch tễ của SXHD tại Long Thành từ năm 2008 đến 2012 và đánh giá hiệu quả của các giải pháp can thiệp phòng chống bệnh. Trong giai đoạn 2008-2012, Đồng Nai ghi nhận 1.907 trường hợp mắc SXHD, với mật độ mới mắc trung bình là 193,75/100.000 dân. Các trường hợp mắc bệnh có độ tuổi đa dạng (từ 1 tháng đến 91 tuổi), với xu hướng giảm dần theo tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ tương đương nhau, và bệnh thường có xu hướng tăng cao vào các tháng 8, 9, 10, 11. Các năm 2011 và 2012 được xác định là năm dịch với tỷ lệ mắc cao hơn các năm trước đó. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan thuận chặt chẽ giữa các chỉ số côn trùng truyền bệnh (DI, HI, BI, HIlq, CI) với số mắc SXHD.

Mô hình can thiệp cộng đồng được áp dụng, sử dụng phương pháp "truyền thông tác động hành vi - COMBI" thông qua học sinh và chủ nhà trọ tại các xã vùng ven khu công nghiệp. Kết quả can thiệp sau 2 năm cho thấy hiệu quả rõ rệt. Tỷ lệ hiểu biết kém về SXHD trong nhóm can thiệp giảm từ 43,98% xuống 15,14%, thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng. Tương tự, tỷ lệ thực hành phòng chống SXHD kém cũng giảm mạnh từ 48,59% xuống 14,54% trong nhóm can thiệp. Các chỉ số côn trùng truyền bệnh như HI, BI, HIlq trong nhóm can thiệp cũng giảm rõ rệt. Quan trọng hơn, tỷ lệ mới mắc SXHD ở nhóm can thiệp giảm từ 302,07/100.000 xuống 55,26/100.000, trong khi nhóm chứng chỉ giảm từ 276,24/100.000 xuống 152,15/100.000. Hiệu quả can thiệp tổng thể đạt 63,68%.

Từ những kết quả trên, luận án kiến nghị tăng cường truyền thông phòng chống SXHD, đặc biệt nhắm vào nhóm đối tượng dưới 40 tuổi và vào các tháng cao điểm của dịch. Việc áp dụng mô hình truyền thông trực tiếp tác động hành vi theo bộ công cụ COMBI, có sự tham gia của học sinh và chủ nhà trọ, kết hợp với các biện pháp kiểm soát véc-tơ sinh học như nuôi cá bảy màu, được khuyến nghị nhân rộng để đạt hiệu quả bền vững trong kiểm soát SXHD.

Tài liệu liên quan