BIỂU HIỆN KI-67, VEGF VÀ CD73 LIÊN QUAN BỆNH HỌC VÀ TIÊN LƯỢNG UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN NƯỚC BỌT
RĂNG - HÀM - MẶT
Luận án tiến sĩ y học này, với tiêu đề "BIỂU HIỆN KI-67, VEGF VÀ CD73 LIÊN QUAN BỆNH HỌC VÀ TIÊN LƯỢNG UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN NƯỚC BỌT", tập trung vào việc nghiên cứu biểu hiện của các dấu ấn sinh học Ki-67, VEGF và CD73 trong ung thư biểu mô tuyến nước bọt (TNB) và mối liên quan của chúng với các yếu tố lâm sàng, giải phẫu bệnh cũng như tiên lượng ở bệnh nhân Việt Nam. Ung thư TNB là một bệnh lý hiếm gặp, chiếm khoảng 0,5% tổng số các loại ung thư và xấp xỉ 5% ung thư vùng đầu cổ, với tỷ lệ sống còn 5 năm dao động từ 72-85%. Việc chẩn đoán chính xác giải phẫu bệnh là một thách thức do sự đa dạng về mô bệnh học và diễn tiến sinh học của hơn 20 loại bướu ác theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2017. Trong bối cảnh ít nghiên cứu về bệnh học phân tử và tiên lượng ung thư TNB tại Việt Nam, nghiên cứu này nhằm mục đích tìm kiếm các yếu tố hỗ trợ chẩn đoán, điều trị và tiên lượng.
Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: (1) khảo sát tỷ lệ biểu hiện Ki-67 và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh; (2) khảo sát tỷ lệ biểu hiện quá mức VEGF, CD73 và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh; và (3) khảo sát tỷ lệ tái phát, sống còn toàn bộ 3 năm, 5 năm, cùng mối liên quan với các yếu tố lâm sàng, giải phẫu bệnh và biểu hiện của Ki-67, VEGF, CD73 trong ung thư TNB. Nghiên cứu được thực hiện trên 111 trường hợp ung thư biểu mô tuyến nước bọt được điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/2016 đến 12/2017, sử dụng thiết kế nghiên cứu đoàn hệ, hồi cứu và tiến cứu.
Kết quả cho thấy tỷ lệ biểu hiện Ki-67 trung vị là 3,7% (khoảng tứ phân vị 1,7-7,9%), với 27,9% trường hợp có biểu hiện cao (≥7%). Biểu hiện Ki-67 cao có liên quan đáng kể với tuổi, giới hạn bướu, mức độ xâm lấn, kích thước bướu, di căn hạch, giai đoạn ung thư (p < 0,01) và độ ác tính mô học (p < 0,05). Tỷ lệ biểu hiện VEGF trung vị là 70% (khoảng tứ phân vị 30-90%), với 72,1% trường hợp biểu hiện quá mức (≥33,3%). Biểu hiện VEGF có liên quan đáng kể với giới hạn bướu (p < 0,05). Tỷ lệ biểu hiện CD73 trung vị là 10% (khoảng tứ phân vị 0-10%), với 53,2% trường hợp biểu hiện quá mức (≥1%), liên quan đến mật độ bướu và loại mô bệnh học (p < 0,05).
Về tiên lượng, thời gian tái phát trung bình là 44,9 ± 21,3 tháng và thời gian tử vong trung bình là 48,7 ± 18,4 tháng. Tỷ lệ sống còn không tái phát sau 3 năm và 5 năm lần lượt là 73% và 71%; tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm và 5 năm lần lượt là 77% và 75%. Các yếu tố liên quan đến tái phát và tử vong trong 3 và 5 năm bao gồm: tuổi ≥ 60, bướu xâm lấn thần kinh/cơ/xương/da, bướu lớn, di căn hạch, giai đoạn ung thư trễ và độ ác tính mô học cao (p < 0,01). Đặc biệt, tăng biểu hiện Ki-67 cao làm tăng nguy cơ tái phát gấp 6,47 lần và nguy cơ tử vong gấp 7,55 lần so với Ki-67 thấp (p < 0,001). Biểu hiện CD73 tăng thêm 1% dẫn đến nguy cơ tái phát và tử vong tăng 2% (p = 0,03 và p = 0,001). Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng quan trọng về biểu hiện của Ki-67, VEGF và CD73 ở bệnh nhân ung thư TNB tại Việt Nam, cùng với giá trị tiên lượng tái phát và sống còn của các yếu tố lâm sàng và giải phẫu bệnh.