Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
NGHIÊN CỨU MÔ BỆNH HỌC VÀ SỰ BỘC LỘ MỘT SỐ DẤU ẤN HÓA MÔ MIỄN DỊCH UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN CỦA NỘI MẠC TỬ CUNG VÀ BUỒNG TRỨNG
Y học
Luận án Tiến sĩ Y học của Nguyễn Khánh Dương, hoàn thành tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2021, tập trung vào nghiên cứu mô bệnh học và sự bộc lộ các dấu ấn hóa mô miễn dịch trong ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung (UTBM NMTC) và ung thư biểu mô buồng trứng (UTBM BT). Mục tiêu chính của nghiên cứu là nhận xét đặc điểm mô bệnh học của các loại ung thư này theo phân loại của TCYTTG năm 2014 và tìm hiểu mối liên quan giữa tần suất bộc lộ các dấu ấn hóa mô miễn dịch với typ mô bệnh học, độ mô học và giai đoạn bệnh.
Nghiên cứu đã phân tích 107 trường hợp UTBM NMTC và 95 trường hợp UTBM BT. Kết quả cho thấy nhóm tuổi 50-59 tuổi gặp nhiều nhất ở cả hai loại ung thư (37,4% đối với UTBM NMTC và 35,8% đối với UTBM BT). Đối với UTBM NMTC, typ dạng nội mạc chiếm tỷ lệ cao nhất (81,3%), trong đó biến thể biệt hóa vảy là phổ biến nhất (56,3%). Độ mô học I chiếm phần lớn các trường hợp UTBM NMTC (73,8%).
Về sự bộc lộ dấu ấn hóa mô miễn dịch trong UTBM NMTC, các dấu ấn EMA, MUC1 và CK7 có tỷ lệ dương tính cao nhất (lần lượt là 93,5%, 85% và 84,1%), trong khi CK20 có tỷ lệ dương tính thấp nhất (2,8%). Cụ thể, UTBM dạng nội mạc bộc lộ mạnh EMA (95,4%), CK7 (87,4%), MUC1 (83,9%), PR (74,7%) và ER (63,2%). UTBM chế nhầy bộc lộ mạnh MUC1 (100%), EMA (85,7%), CEA (71,4%), CK7 (57,1%) và PR (57,1%). UTBM thanh dịch bộc lộ mạnh EMA (80%), CK7 (60%) và MUC1 (80%).
Đối với UTBM buồng trứng, hầu hết các trường hợp có độ mô học thấp (độ I và độ II chiếm 86,3%). Các dấu ấn EMA, CK7 và MUC1 cũng có tỷ lệ dương tính cao nhất (lần lượt là 90,5%, 85,3% và 83,2%), tương đồng với UTBM nội mạc, còn MUC2 có tỷ lệ dương tính thấp nhất (2,8%).
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên