Nghiên cứu đầu tư của doanh nghiệp
Quản trị kinh doanh
Luận án "Nghiên cứu đầu tư của doanh nghiệp" của Lê Văn Hưởng, bảo vệ năm 2016 tại Trường Đại học Mở TP.HCM, ngành Quản trị kinh doanh, tập trung phân tích vai trò quan trọng của đầu tư doanh nghiệp (DN) đối với tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo việc làm. Bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay càng làm nổi bật tầm quan trọng của đầu tư DN, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nơi việc thu hút đầu tư còn hạn chế và các chính sách chưa thực sự đáp ứng nhu cầu.
Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quyết định đầu tư và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các DN nhà nước (DNNN) và DN ngoài nhà nước (DNNNN) tại ĐBSCL. Luận án đặt ra ba vấn đề nghiên cứu chính: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN vùng ĐBSCL; phân tích sự khác biệt về đầu tư theo hình thức sở hữu DN; và khám phá ảnh hưởng của đặc tính Giám đốc (GĐ) đối với quyết định đầu tư và hiệu quả hoạt động SXKD của DN.
Điểm mới của đề tài bao gồm việc sử dụng phương pháp phân tích định lượng với mô hình Tobit trên mẫu lớn 27.472 DN từ Tổng cục Thống kê để xác định các yếu tố tác động đến đầu tư. Kết quả cho thấy các DN có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư nhiều hơn DNNN; DN tư nhân đầu tư ít hơn DNNN; DN xuất khẩu đầu tư nhiều hơn DN không xuất khẩu; DN trong khu công nghiệp đầu tư nhiều hơn. Các yếu tố như tài sản, tài sản cố định, doanh thu, độ trễ đầu tư, nợ phải trả và quy mô lao động đều có ý nghĩa thống kê đáng kể.
Luận án cũng tiên phong áp dụng kỹ thuật phân rã Oaxaca – Blinder (1973) để phân tích sự khác biệt trong đầu tư giữa DNNN và DNNNN tại Việt Nam. Kết quả chỉ ra DNNNN đầu tư nhiều hơn DNNN và hiệu quả hoạt động (ROA) tác động tích cực đến đầu tư của DNNNN nhưng không đáng kể đối với DNNN. Sự khác biệt này được giải thích bởi các đặc tính của DN và sự phân biệt đối xử.
Nghiên cứu còn tiếp cận hành vi và đặc tính của GĐ (tuổi, giới tính, học vấn, kinh nghiệm, mối quan hệ) ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và hiệu quả SXKD của DN. Kết quả hồi quy Logit cho thấy trình độ học vấn GĐ cao có tác động tiêu cực đến quyết định đầu tư, trong khi chuyên môn tài chính ngân hàng, kinh nghiệm và mối quan hệ gia đình (người thân là GĐ DN khác) có tác động tích cực. GĐ tự tin có khả năng đầu tư cao hơn. Về hiệu quả hoạt động, tình trạng hôn nhân và mối quan hệ của GĐ (lãnh đạo ngân hàng/tổ chức tài chính) có tác động tích cực. GĐ trực tiếp ra quyết định đầu tư và GĐ tự tin có hiệu quả hoạt động SXKD cao hơn. Tuy nhiên, GĐ tự tin giúp DN đầu tư nhiều hơn nhưng không làm tăng hiệu quả hoạt động (ROA). Dựa trên các phát hiện này, luận án đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy đầu tư và phát triển DN tại ĐBSCL.