info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của SPECT/CT 99mTc-MAA trong tắc mạch xạ trị bằng hạt vi cầu Resin gắn Yttrium-90 ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan.

Năm2021
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ GIÁ TRỊ CỦA SPECT/CT 99mTc-MAA TRONG TẮC MẠCH XẠ TRỊ BẰNG HẠT VI CẦU RESIN GẮN YTTRIUM-90 Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN

Ngành:

Chẩn đoán hình ảnh (Mã số: 62.72.01.66)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá đặc điểm hình ảnh và giá trị của chụp xạ hình SPECT/CT 99mTc-MAA trong lập kế hoạch điều trị tắc mạch xạ trị (TARE) bằng hạt vi cầu resin gắn Yttrium-90 cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (UBTG). UBTG là một trong những bệnh có tỷ lệ mắc cao ở Việt Nam, và TARE là một phương pháp điều trị quan trọng. Tuy nhiên, các kỹ thuật mô phỏng điều trị truyền thống sử dụng hình ảnh 2D planar 99mTc-MAA còn tồn tại nhiều hạn chế như chồng lấp, khó đánh giá shunt gan – phổi, và xác định thể tích khối u chính xác.

Mục tiêu chính của luận án là đánh giá các đặc điểm lâm sàng, so sánh các thông số trên xạ hình 99mTc-MAA planar và SPECT/CT trong lập kế hoạch điều trị, đồng thời nghiên cứu mối liên quan giữa các thông số này với đáp ứng khối u. Nghiên cứu được thực hiện trên 52 bệnh nhân UBTG, trong đó 36 bệnh nhân được theo dõi đáp ứng điều trị sau 3 tháng.

Kết quả cho thấy SPECT/CT 99mTc-MAA mang lại nhiều ưu điểm vượt trội so với planar. Cụ thể, SPECT/CT phát hiện được nhiều trường hợp khối u có mật độ phân bố phóng xạ không đều (73,1% so với 50% trên planar), hoại tử (57,7% so với 13,5%), và huyết khối tăng hoạt tính phóng xạ (9,6% so với 0%) một cách rõ rệt hơn. Các thông số lập kế hoạch điều trị như liều chiếu vào khối u (Dtumor) và chỉ số số đếm phóng xạ tại khối u/gan lành (TNr) ước tính trên SPECT/CT cao hơn có ý nghĩa thống kê so với planar. Đặc biệt, SPECT/CT đã làm thay đổi chỉ định điều trị ở 7,69% bệnh nhân do xác định chính xác hơn tỷ lệ shunt gan – phổi (LSF > 20%) và 1,9% bệnh nhân do chỉ số TNr < 2.

Về khả năng dự báo đáp ứng điều trị, SPECT/CT có giá trị cao hơn planar, với diện tích dưới đường cong ROC là 0,838 so với 0,714. Ngưỡng Dtumor 125 Gy trên SPECT/CT dự đoán đáp ứng với độ nhạy 87,5% và độ đặc hiệu 69,2%, vượt trội so với planar. Thể tích khối u, TNr và Dtumor ước tính trên SPECT/CT đều là các yếu tố dự đoán đáp ứng khối u có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ đáp ứng khối u chung sau 3 tháng là 63,9%. Luận án đã đóng góp quan trọng vào thực hành lâm sàng, cung cấp bằng chứng khoa học vững chắc về vai trò của SPECT/CT trong cá thể hóa điều trị UBTG bằng TARE, giúp tối ưu hóa hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.

Tài liệu liên quan