ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ CỦA PHẪU THUẬT FONTAN THEO PHƯƠNG PHÁP LÀM ĐƯỜNG DẪN MÁU NGOÀI TIM BẰNG ỐNG GHÉP NHÂN TẠO
NGOẠI LỒNG NGỰC
Bệnh tim một tâm thất chức năng là một bệnh lý hiếm gặp nhưng phức tạp, chiếm khoảng 7,7% các bệnh tim bẩm sinh với tiên lượng tự nhiên rất xấu, hơn 75% trường hợp tử vong trong 3 năm đầu. Phẫu thuật Fontan đã được áp dụng hơn 50 năm nhằm dẫn toàn bộ máu tĩnh mạch hệ thống lên phổi một cách thụ động, là lựa chọn chính để điều trị sinh lý cho bệnh lý này. Trong các phương pháp Fontan, làm đường dẫn máu ngoài tim bằng ống ghép nhân tạo là kỹ thuật được đa số các trung tâm trên thế giới và tại Việt Nam áp dụng rộng rãi nhất. Tuy nhiên, kết quả phẫu thuật Fontan vẫn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố về cấu trúc tim, huyết động và các can thiệp phẫu thuật kèm theo. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về phẫu thuật Fontan với đường dẫn máu ngoài tim bằng ống ghép nhân tạo còn hạn chế.
Luận án này được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của phẫu thuật Fontan theo phương pháp làm đường dẫn máu ngoài tim bằng ống ghép nhân tạo. Cụ thể, nghiên cứu phân tích đặc điểm dân số, cấu trúc tim và phẫu thuật của nhóm bệnh nhân tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh; đánh giá kết quả sớm và trung hạn; và xác định các yếu tố liên quan đến tỉ lệ tử vong bệnh viện. Đối tượng nghiên cứu là 122 bệnh nhân tim một tâm thất chức năng đã được phẫu thuật Fontan tại Viện Tim TPHCM, với thiết kế nghiên cứu mô tả, tiến cứu, theo dõi dọc từ tháng 05/2015 đến tháng 01/2019.
Kết quả cho thấy tỉ lệ tử vong bệnh viện là 9,8%. Các biến chứng sớm thường gặp bao gồm hội chứng cung lượng tim thấp (32%), suy thận cấp (23,8%) và tràn dịch màng phổi kéo dài (32%). Tỉ lệ sống còn sau phẫu thuật là 90,2% và sau 4,5 năm là 89%. Phân tích hồi quy đơn biến xác định các yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong bệnh viện gồm: đồng dạng phải, van nhĩ thất chung, độ hở van nhĩ thất nặng, sửa van nhĩ thất, tăng áp lực ĐMP trung bình sau ngưng tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT), tăng áp lực nhĩ chung sau ngưng THNCT và tăng chênh áp qua phổi sau ngưng THNCT. Trong đó, chênh áp qua phổi sau ngưng THNCT là yếu tố dự báo độc lập có ý nghĩa thống kê (OR = 2,09 với KTC 95% 1,38 – 3,5 và p = 0,002). Giá trị chênh áp qua phổi 10 mmHg được xác định là ngưỡng dự báo nguy cơ tử vong.
Luận án kiến nghị cần cân nhắc chỉ định phẫu thuật Fontan đối với các trường hợp hở van nặng, đặc biệt ở bệnh nhân hội chứng sai biệt vị trí tạng có vị trí tạng đồng dạng phải, khuyến nghị sửa van trước. Đồng thời, việc áp dụng "chênh áp qua phổi sau ngưng THNCT" có vai trò quan trọng trong tiên lượng và điều trị hậu phẫu cho bệnh nhân.