info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đột biến gen ATP7B trên bệnh nhân Wilson người lớn

Năm2022
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐỘT BIẾN GEN ATP7B TRÊN BỆNH NHÂN WILSON NGƯỜI LỚN

Ngành:

NỘI TIÊU HÓA

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Bệnh Wilson là một rối loạn di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, gây ra bởi đột biến gen ATP7B, được phát hiện vào năm 1912. Đây là một căn bệnh hiếm gặp nhưng vô cùng phức tạp, với tỷ lệ mắc khoảng 1/30.000 trẻ sinh ra và người lành mang gen dao động 1/90-1/150. Bệnh biểu hiện lâm sàng đa dạng, tổn thương nhiều cơ quan như thần kinh, tiêu hóa, gan mật, xương khớp, huyết học, gây khó khăn trong việc chẩn đoán sớm. Mặc dù nguyên nhân do đột biến gen ATP7B được tìm ra từ năm 1993, việc phân tích gen vẫn còn thách thức do kích thước gen lớn, đột biến đa dạng và khác biệt theo chủng tộc, gây khó khăn trong việc xác định mối liên quan kiểu gen-kiểu hình.

Nghiên cứu này được thực hiện trên 66 bệnh nhân Wilson người lớn tại Bệnh viện Chợ Rẫy trong giai đoạn từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2019, nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, xác định tỷ lệ và đặc điểm đột biến gen ATP7B, cũng như khảo sát mối liên quan giữa kiểu gen và kiểu hình của bệnh. Tuổi khởi phát trung bình của bệnh là 22,2 ± 8,3 tuổi. Các triệu chứng lâm sàng đa dạng thường gặp bao gồm triệu chứng về gan, thần kinh, thiếu máu tán huyết, rối loạn kinh nguyệt và viêm khớp ngoại biên. Các dấu hiệu đặc trưng của bệnh được ghi nhận: đồng niệu 24 giờ tăng (93,9%), nồng độ ceruloplasmin máu giảm (92,4%), sự hiện diện vòng Kayser-Fleischer (78,8%) và tổn thương não trên MRI (68,2%). Thể lâm sàng tổn thương gan mạn là phổ biến nhất (48,5%).

Về phân tích đột biến gen ATP7B, nghiên cứu phát hiện tỷ lệ đột biến là 97,0%, với kiểu gen dị hợp tử kép là phổ biến nhất (60,6%). Tổng cộng 33 loại đột biến khác nhau đã được tìm thấy, trong đó có 03 đột biến mới chưa được công bố. Các đột biến thay thế nucleotide dẫn đến sai nghĩa là loại đột biến thường gặp nhất (76,8%), và các vị trí đột biến thường thấy là exon 2, 8, 10.

Về mối liên quan kiểu gen-kiểu hình, bệnh nhân có kiểu gen đồng hợp tử có tuổi khởi phát sớm hơn đáng kể so với nhóm dị hợp tử kép (p=0,011). Nồng độ ceruloplasmin máu thấp chiếm ưu thế ở nhóm dị hợp tử kép so với nhóm đồng hợp tử (p=0,016). Đồng niệu 24 giờ tăng ở tất cả bệnh nhân đồng hợp tử và dị hợp tử kép, và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dị hợp tử kép và dị hợp tử đơn (p=0,005). Tuy nhiên, nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa kiểu gen với sự hiện diện vòng Kayser-Fleischer hoặc các thể lâm sàng của bệnh Wilson.

Mục lục chi tiết:

  • phần đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu (02 trang)
  • tổng quan tài liệu (33 trang)
  • phương pháp nghiên cứu (16 trang)
  • kết quả (27 trang)
  • bàn luận (33 trang)
  • kết luận và kiến nghị (03 trang)

Tài liệu liên quan