NGHIÊN CỨU THAY ĐỔI MỘT SỐ CYTOKINE VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VẢY NẾN ĐỎ DA TOÀN THÂN BẰNG METHOTREXATE
Nội khoa/Da liễu
Luận án "Nghiên cứu thay đổi một số cytokine và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân bằng Methotrexate" được thực hiện nhằm khảo sát các yếu tố liên quan, đặc điểm lâm sàng, xác định nồng độ một số cytokine huyết thanh (IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, INF-γ) và đánh giá hiệu quả điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân (VNĐDTT) bằng Methotrexate.
VNĐDTT là một thể nặng của bệnh vảy nến, đặc trưng bởi tổn thương da chiếm trên 90% diện tích cơ thể, kèm theo các rối loạn toàn thân và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra sự gia tăng đáng kể của nhiều cytokine trong huyết thanh bệnh nhân vảy nến, nhưng còn thiếu dữ liệu về sự thay đổi của chúng sau điều trị bằng Methotrexate, đặc biệt tại Việt Nam.
Nghiên cứu bao gồm 112 bệnh nhân VNĐDTT, trong đó 30 bệnh nhân được định lượng cytokine trước và sau điều trị. Kết quả cho thấy bệnh chủ yếu gặp ở nam giới (87,2%), với tuổi trung bình 51,85±17,09 và tuổi khởi phát <40 chiếm 58,93%. Các yếu tố khởi động phổ biến bao gồm chấn thương tâm lý (66,97%), nhiễm khuẩn khu trú (55,36%), thuốc đông y (56,25%) và corticoid toàn thân (32,14%). Đặc điểm lâm sàng nổi bật là đỏ da và vảy (100%), ngứa (89,289%), cộm (79,46%), tổn thương móng (79,46%). Mức độ PASI trung bình trước điều trị là 43,3±5,9, với PASI từ 30-<40 chiếm tỷ lệ cao nhất (42,86%).
Về cytokine, nồng độ IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, INF-γ huyết thanh ở bệnh nhân VNĐDTT trước điều trị đều cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng khỏe mạnh (p<0,0001). Riêng IL-17 có mối liên quan nghịch với mức độ PASI. Sau 12 tuần điều trị bằng Methotrexate, nồng độ IL-6 và IL-8 giảm rõ rệt (p<0,001) so với trước điều trị, trong khi các cytokine khác có sự thay đổi nhưng không có ý nghĩa thống kê rõ ràng, và vẫn cao hơn so với nhóm người khỏe.
Hiệu quả điều trị của Methotrexate được ghi nhận rõ rệt, với chỉ số PASI giảm trung bình 67,7% sau 12 tuần. 100% bệnh nhân đạt PASI-50, 86,67% đạt PASI-75 và 30% đạt PASI-90. Kết quả điều trị không liên quan đến giới tính, tuổi đời hay thời gian mắc bệnh. Các xét nghiệm cận lâm sàng (Hb, BC, TC, AST, ALT, Ure, Creatinin) đều trong giới hạn bình thường. Tác dụng không mong muốn chủ yếu là mệt mỏi (63,3% sau 12 tuần), đau đầu, ớn lạnh, nôn/buồn nôn giảm dần, không có bệnh nhân nào phải ngừng điều trị.
Luận án khuyến nghị cần tiếp tục điều trị duy trì sau giai đoạn tấn công do nồng độ cytokine chưa giảm tương đồng với lâm sàng và khẳng định Methotrexate vẫn là lựa chọn hiệu quả, dung nạp tốt, ít tác dụng phụ và giá thành rẻ trong điều trị VNĐDTT.