ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI NHÔ XƯƠNG Ỗ HAI HÀM, HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA PHƯƠNG PHÁP DÂY THẲNG VÀ PHƯƠNG PHÁP BIOCREATIVE
RĂNG HÀM MẶT
Luận án này tập trung nghiên cứu đặc điểm hình thái nhô xương ổ hai hàm và so sánh hiệu quả điều trị giữa phương pháp Dây thẳng và Biocreative ở người Việt trưởng thành. Nghiên cứu được thực hiện do các nghiên cứu trước đây về nhô xương ổ ở người Việt còn hạn chế về cỡ mẫu, kiểu mặt, và chủ yếu dựa trên hình ảnh hai chiều, không đánh giá chính xác phức hợp răng-xương ổ. Do đó, luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc khảo sát hình thái xương ổ bằng hình ảnh ba chiều (CBCT) và so sánh hiệu quả của hai phương pháp điều trị chính.
Mục tiêu chính của nghiên cứu bao gồm mô tả đặc điểm hình thái sọ-mặt-răng trên phim sọ nghiêng, mô tả đặc điểm hình thái xương ổ các răng trước trên hình ảnh CBCT ở bệnh nhân nhô xương ổ hai hàm, và so sánh hiệu quả kéo lui nguyên khối của phương pháp Dây thẳng và Biocreative.
Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn tại các phòng khám Răng Hàm Mặt của Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch và Bệnh viện RHM TP. Hồ Chí Minh. Giai đoạn 1 là nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 130 bệnh nhân để khảo sát hình thái sọ-mặt-răng và xương ổ. Giai đoạn 2 là nghiên cứu ứng dụng lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh trên 36 bệnh nhân để đánh giá hiệu quả điều trị.
Những đóng góp mới của luận án là đây là nghiên cứu đầu tiên ứng dụng CBCT để khảo sát hình thái xương ổ các răng trước ở bệnh nhân người Việt nhô xương ổ hai hàm, và cũng là nghiên cứu đầu tiên so sánh hiệu quả kéo lui nguyên khối giữa hai phương pháp Dây thẳng và Biocreative. Các kết quả cung cấp bằng chứng lý luận về di chuyển răng, phát triển phương trình hồi quy dự báo thay đổi diện tích xương ổ, và có ý nghĩa ứng dụng lâm sàng trong chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị chỉnh hình răng mặt.
Kết quả cho thấy, ở người nhô xương ổ hai hàm, vị trí xương hàm trên và dưới bình thường, răng cửa trên và dưới nhô, chìa ra trước (góc liên trục 112,1 ± 6,9°), môi nhô. Chiều dày xương ổ mặt ngoài mỏng nhất ở phần ba giữa và dày nhất ở phần ba chóp, trong khi mặt trong dày dần từ cổ đến chóp. Diện tích xương ổ mặt trong thường lớn hơn mặt ngoài, trừ phần ba cổ răng cửa hàm dưới. Khoảng cách men xê măng đến mào xương ổ hàm dưới lớn hơn hàm trên.
Về hiệu quả điều trị, cả hai phương pháp đều kiểm soát tốt torque, chiều dọc và neo chặn. Tuy nhiên, phương pháp Biocreative cho thấy thời gian đóng khoảng và tốc độ đóng khoảng nhanh hơn đáng kể so với Dây thẳng (8,6 ± 1,2 tháng so với 12,1 ± 1,1 tháng; tốc độ 0,8 ± 0,2 mm/tháng so với 0,6 ± 0,1 mm/tháng). Biocreative cũng tạo ra sự thay đổi hình thái xương ổ đáng kể hơn ở răng cửa bên.
Kiến nghị của luận án là tiếp tục theo dõi sự thay đổi hình thái xương ổ bằng các nghiên cứu dọc để tìm hiểu khả năng tự tu sửa của xương ổ.
Luận án gồm 129 trang, bao gồm: