NGHIÊN CỨU BIẾN CHỨNG RÒ TỤY VÀ CHẢY MÁU SAU PHẪU THUẬT CẮT KHỐI TÁ TỤY ĐIỀU TRỊ UNG THƯ QUANH BÓNG VATER
Ngoại khoa
Luận án "Nghiên cứu biến chứng rò tụy và chảy máu sau phẫu thuật cắt khối tá tụy điều trị ung thư quanh bóng Vater" của Võ Trường Quốc tập trung vào các biến chứng nguy hiểm nhất sau phẫu thuật cắt khối tá tụy, một phương pháp điều trị triệt để cho ung thư quanh bóng Vater. Mặc dù tỉ lệ tử vong sau phẫu thuật đã giảm đáng kể, tỉ lệ biến chứng vẫn còn cao (30-50%), với rò tụy và chảy máu là những vấn đề nghiêm trọng nhất.
Nghiên cứu này được thực hiện đa trung tâm với các mục tiêu chính: xác định tỉ lệ, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của rò tụy và chảy máu sau phẫu thuật; xác định mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ trước và trong phẫu thuật với các biến chứng này; và đánh giá kết quả điều trị rò tụy, chảy máu sau phẫu thuật. Đối tượng nghiên cứu là 183 bệnh nhân ung thư quanh bóng Vater được phẫu thuật cắt khối tá tụy, sử dụng phương pháp đoàn hệ tiến cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ rò tụy độ A là 28,5%, rò tụy có triệu chứng lâm sàng (độ B và C) là 13,6% (độ B: 9,8%, độ C: 3,8%), và chảy máu sau phẫu thuật là 8,7%. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến rò tụy có triệu chứng lâm sàng bao gồm chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 25 kg/m², albumin máu < 3,5 g/dL, mật độ nhu mô tụy mềm và lượng máu mất trong phẫu thuật ≥ 400 mL. Đặc biệt, rò tụy còn là một yếu tố nguy cơ đáng kể gây chảy máu (p = 0,001).
Về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, rò tụy độ B thường biểu hiện đau bụng và thay đổi màu sắc dịch dẫn lưu, kèm tăng nồng độ amylase dịch, bạch cầu máu và thể tích dịch dẫn lưu. Rò tụy độ C thường xuất hiện muộn với tụt huyết áp và niêm nhạt, và hình ảnh CLVT có giá trị trong việc phân biệt các mức độ này.
Kết quả điều trị cho thấy tỉ lệ nhập viện lại do rò tụy độ B là 11,1%. Phẫu thuật lại cho rò tụy độ C không ghi nhận trường hợp tử vong. Tỉ lệ điều trị thành công biến chứng chảy máu đạt 81,2%, dù vẫn có trường hợp cần can thiệp thứ phát và tử vong.
Nghiên cứu này là một trong số ít công trình đa trung tâm tại Việt Nam về chủ đề này, góp phần xác định các yếu tố liên quan và xây dựng mô hình dự đoán biến chứng. Kiến nghị từ nghiên cứu bao gồm việc xem xét các yếu tố chu phẫu, thực hiện CLVT thường quy sau phẫu thuật và nghiên cứu sâu hơn về rò tụy độ C để có xử trí sớm và hiệu quả.