ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN BẤT SẢN ÂM ĐẠO SAU PHẪU THUẬT DAVYDOV
Sản phụ khoa
Luận án "Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bất sản âm đạo sau phẫu thuật Davydov" xuất phát từ thực trạng hội chứng Mayer-Rokitansky-Kuster-Hauser (MRKH) là dị tật bẩm sinh hiếm gặp, ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống (QoL) của phụ nữ từ thể chất, tinh thần đến xã hội, dù không đe dọa tính mạng. Mặc dù phẫu thuật tạo hình âm đạo bằng phương pháp Davydov đã được thực hiện tại các bệnh viện như Từ Dũ, hiệu quả điều trị về mặt chức năng (tình dục, QoL, sức khỏe tâm thần) và các can thiệp hỗ trợ còn thiếu thông tin đánh giá.
Nghiên cứu này nhằm khảo sát QoL bằng bộ câu hỏi WHOQOL-BREF, chức năng tình dục bằng FSFI, tỉ lệ nguy cơ rối loạn lo âu-trầm cảm bằng thang Ham-A và Ham-D, và tìm hiểu sâu các vấn đề nổi trội ảnh hưởng đến cuộc sống của bệnh nhân bất sản âm đạo sau phẫu thuật Davydov tại Bệnh viện Từ Dũ trong giai đoạn 2014-2021. Đối tượng là phụ nữ MRKH đã phẫu thuật tạo hình âm đạo. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng (báo cáo loạt ca) và định tính (phỏng vấn bán cấu trúc, phân tích hiện tượng học).
Kết quả cho thấy QoL của bệnh nhân nhìn chung tốt, nhưng QoL về sức khỏe tâm lý và quan hệ xã hội có tỉ lệ chưa tốt cao (34,5%). Chức năng tình dục có tỉ lệ rối loạn cao (52%), với điểm số FSFI trung bình 25,4 ± 5,56. Khoảng 25% bệnh nhân đối mặt với nguy cơ rối loạn lo âu-trầm cảm (chủ yếu nhẹ-trung bình). Bốn vấn đề nổi trội ảnh hưởng bao gồm: những nhược điểm của âm đạo nhân tạo và tâm lý liên quan đến quan hệ tình dục; áp lực lớn từ việc mất khả năng mang thai tự nhiên trong bối cảnh văn hóa Việt Nam; những mặc cảm, khó khăn gây căng thẳng tâm lý/tâm thần; và sự thiếu hụt hỗ trợ đầy đủ từ gia đình, ngành y tế và xã hội.
Nghiên cứu này là công trình đầu tiên tại Việt Nam đánh giá toàn diện các khía cạnh trên, cung cấp thông tin quan trọng để cảnh báo và đề xuất các chiến lược quản lý, điều trị toàn diện cho bệnh nhân MRKH. Các kiến nghị bao gồm điều trị đa ngành (phẫu thuật, tư vấn tâm lý, hỗ trợ sinh sản), sàng lọc sớm các rối loạn, xây dựng mạng lưới hỗ trợ bệnh nhân, và đề xuất chính sách y tế về bảo hiểm và mang thai hộ.