XÁC ĐỊNH VAI TRÒ CỦA SÔNG HỒNG VÀ ĐÁ GỐC ĐỐI VỚI LƯỢNG BỔ CẬP CHO NƯỚC DƯỚI ĐẤT TRONG TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ PHẦN TÂY NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Kỹ thuật địa chất
Luận án "XÁC ĐỊNH VAI TRÒ CỦA SÔNG HỒNG VÀ ĐÁ GỐC ĐỐI VỚI LƯỢNG BỔ CẬP CHO NƯỚC DƯỚI ĐẤT TRONG TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ PHẦN TÂY NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI" của Triệu Đức Huy tập trung giải quyết vấn đề cấp thiết về khai thác nước dưới đất (NDĐ) không hợp lý tại Hà Nội. Tình trạng này đã gây ra nhiều tác động tiêu cực như suy giảm mực nước, cạn kiệt NDĐ, sụt lún nền đất, nhiễm bẩn và nhiễm mặn. Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải xác định rõ ràng các nguồn bổ cập cho NDĐ, đặc biệt là vai trò của biên sông Hồng và biên đá gốc phía Tây Nam, để đảm bảo khai thác tài nguyên NDĐ ổn định và bền vững.
Mục đích chính của luận án là xác định và phân loại các kiểu điều kiện biên của sông Hồng và đá gốc, định lượng vai trò của từng đoạn biên đối với lượng bổ cập NDĐ trong trầm tích Đệ tứ (bao gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocen (qh) và Pleistocen (qp)) khu vực Tây Nam Hà Nội, và đề xuất phương án khai thác, sử dụng hợp lý nguồn NDĐ. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở khu vực phía Nam TP. Hà Nội, cụ thể là biên sông Hồng từ huyện Ba Vì đến huyện Phú Xuyên và biên đá gốc phía Tây Nam từ thị xã Sơn Tây đến huyện Mỹ Đức.
Luận án mang nhiều điểm mới, nổi bật là việc vận dụng lý thuyết và kết quả thí nghiệm để tính toán định lượng các thông số trên từng đoạn biên. Đây là lần đầu tiên các giá trị cung cấp, thoát của NDĐ qua các đoạn biên sông Hồng và đá gốc được xác định một cách định lượng theo cấu trúc địa chất thủy văn (ĐCTV), tạo cơ sở khoa học vững chắc cho việc điều chỉnh phương án khai thác NDĐ. Các kết quả này không chỉ làm rõ thêm hệ phương pháp khoa học trong việc xác định điều kiện biên và nguồn bổ cập, mà còn cung cấp cơ sở cho các giải pháp khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên NDĐ một cách hợp lý và bền vững, đồng thời là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý và quy hoạch.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, cấu trúc ĐCTV dọc sông Hồng được phân chia thành 9 vùng với 3 kiểu và 4 phụ kiểu, với lượng bổ cập từ sông Hồng hiện nay dao động từ 424.086 đến 620.411 m³/ngày. Cấu trúc ĐCTV dọc rìa tiếp giáp với đá gốc phía Tây Nam được chia thành 4 vùng với 3 kiểu, được xác định là biên loại II, cung cấp lượng bổ cập từ 19.815 đến 20.349 m³/ngày. Luận án đã đề xuất 3 phương án khai thác, trong đó phương án 3 (dừng toàn bộ hoạt động khai thác NDĐ trong khu vực nội thành và bổ sung các bãi giếng mới ven sông) được đánh giá là hợp lý nhất, giúp phục hồi mực nước NDĐ khu vực trung tâm thành phố và tăng tổng lưu lượng khai thác lên đến 1.571.000 m³/ngày, với lượng bổ cập từ sông Hồng tăng gấp đôi so với hiện trạng, qua đó khẳng định vai trò quan trọng của sông Hồng đối với trữ lượng NDĐ của Hà Nội.