Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN, SINH HỌC SINH SẢN VÀ SINH THÁI HỌC DINH DƯỠNG CỦA CÁ THÒI LÒI VẠCH (Periophthalmus gracilis) VÀ CÁ THÒI LÒI CHẤM ĐEN (Periophthalmus variabilis) Ở MỘT SỐ TỈNH VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Công nghệ Sinh học
Luận án tiến sĩ này tập trung nghiên cứu đặc điểm di truyền, sinh học sinh sản và sinh thái học dinh dưỡng của hai loài cá thòi lòi vạch (Periophthalmus gracilis) và cá thòi lòi chấm đen (Periophthalmus variabilis) tại một số tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Mục tiêu chính của nghiên cứu là cung cấp dữ liệu khoa học hệ thống để bổ sung cho công tác phân loại học, hỗ trợ nghiên cứu sinh sản nhân tạo và bảo vệ bền vững nguồn lợi các loài cá này trong khu vực.
Nghiên cứu đã xác định trình tự vùng gen COI và 18S của hai loài, với chiều dài chuỗi COI khoảng 646 bp cho P. gracilis và 625 bp cho P. variabilis, và chiều dài chuỗi 18S lần lượt là 409 bp và 396 bp. Các trình tự này đã được đăng ký trên NCBI. Phân tích khoảng cách di truyền Kimura 2-parameter (K2P) cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa hai loài (COI: 16,7%, 18S: 1,4%), khẳng định chúng là hai loài riêng biệt về mặt di truyền.
Về sinh học sinh sản, tỷ lệ giới tính của cả hai loài xấp xỉ 1:1. Cá thòi lòi chấm đen có 5 giai đoạn phát triển noãn sào và tinh sào, trong khi cá thòi lòi vạch có 4 giai đoạn. Cả hai loài đều có khả năng sinh sản quanh năm, với đỉnh điểm tập trung vào mùa mưa (tháng 6-11). Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của cá thòi lòi chấm đen dao động từ 696 - 8.124 trứng/cá cái và 256 - 1.023 trứng/g, còn cá thòi lòi vạch là 523 - 8.562 trứng/cá cái và 902 - 6.961 trứng/g, có mối tương quan chặt chẽ với chiều dài và khối lượng cá. Chiều dài thành thục đầu tiên (Lm) của P. variabilis lớn hơn đáng kể so với P. gracilis.
Về sinh thái học dinh dưỡng, cá thòi lòi chấm đen có phổ thức ăn gồm 7 loại chính, chủ yếu là kiến và tép, trong khi cá thòi lòi vạch chủ yếu ăn lọc, tiêu thụ phiêu sinh, mùn và động vật phù du nhỏ. Chỉ số sinh trắc dạ dày (GI) và hệ số béo Clark đều cao hơn ở cá cái so với cá đực, và GI cũng biến động theo mùa, cao hơn vào mùa khô. Các yếu tố môi trường như nhiệt độ và độ mặn cũng được ghi nhận biến động đáng kể theo khu vực và mùa.
Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng, đóng góp vào việc bổ sung cơ sở dữ liệu cho phân loại học, cung cấp thông tin cần thiết cho công tác nuôi trồng, sinh sản nhân tạo và bảo vệ nguồn lợi bền vững của cá thòi lòi tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên