NGHIÊN CỨU YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG BỔ CẬP TỪ NƯỚC MƯA CHO NƯỚC DƯỚI ĐẤT CÁC TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
ĐỊA CHẤT HỌC
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội quan trọng của Việt Nam, đang đối mặt với các thách thức nghiêm trọng do khai thác nước dưới đất quá mức tại các tầng chứa nước Đệ tứ. Tình trạng này dẫn đến cạn kiệt, sụt lún, xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước. Các nghiên cứu trước đây về bổ cập nước dưới đất vùng ĐBSH thường mang tính địa phương, chưa có phân vùng bổ cập từ nước mưa trên toàn vùng. Nhận thức được tính cấp thiết này, luận án tập trung xác định các yếu tố ảnh hưởng và lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất trong các trầm tích Đệ tứ vùng ĐBSH, đồng thời đánh giá vai trò của thành phần cung cấp thấm từ nước mưa đối với sự hình thành trữ lượng nước dưới đất.
Để đạt được mục tiêu, nghiên cứu đã xây dựng một hệ phương pháp tổng hợp hiệu quả, kết hợp thủy văn đồng vị, viễn thám - GIS, phương pháp giải tích và mô hình số (MODFLOW, mô-đun “Zone Budget”). Dữ liệu được thu thập trực tiếp thông qua lấy mẫu nước dưới đất, nước mặt và nước mưa để phân tích đồng vị bền và phóng xạ, cùng với việc kế thừa các dữ liệu về lượng mưa, ảnh viễn thám, số độ cao và khai thác nước dưới đất. Phương pháp bảng hỏi chuyên gia (AHP) cũng được áp dụng để xác định trọng số ảnh hưởng của từng yếu tố.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lượng mưa, lớp phủ mặt đất - sử dụng đất, loại đất, trầm tích Đệ tứ và đá gốc, mực nước dưới đất, địa mạo, độ dốc địa hình và mật độ sông suối là các yếu tố chính ảnh hưởng đến bổ cập từ nước mưa, được sắp xếp theo thứ tự giảm dần về mức độ ảnh hưởng. Luận án đã phân vùng tiềm năng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất ĐBSH thành ba vùng dựa trên chỉ số tiềm năng bổ cập nước dưới đất (GRI), với các giá trị bổ cập trung bình tương ứng là 188mm/năm (vùng tiềm năng thấp), 372mm/năm (vùng tiềm năng trung bình) và 429mm/năm (vùng tiềm năng cao).
Về vai trò của nước mưa, nghiên cứu khẳng định nước mưa, nước tưới và nước trên mặt là nguồn bổ cập chính cho các tầng chứa nước Đệ tứ, đặc biệt vào mùa mưa (chiếm 67,63% tổng lượng bổ cập, tương đương 5.607.868 m³/ngày). Lượng bổ cập này giảm đáng kể vào mùa khô (còn 9,75%). Nguồn thoát nước chủ yếu đến từ xâm phạm trữ lượng tĩnh (khai thác nước dưới đất) và bốc hơi. Hệ phương pháp được xây dựng trong luận án có tính ứng dụng cao, không chỉ cho ĐBSH mà còn có thể áp dụng cho các vùng khác, góp phần vào công tác quản lý tài nguyên nước bền vững.