info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ trên núi đá vôi ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên

Năm2014
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN THỰC VẬT THÂN GỖ TRÊN NÚI ĐÁ VÔI Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA - PHƯỢNG HOÀNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành:

Lâm sinh

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN THỰC VẬT THÂN GỖ TRÊN NÚI ĐÁ VÔI Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA - PHƯỢNG HOÀNG, TỈNH THÁI NGUYÊN" của Nguyễn Thị Thoa, chuyên ngành Lâm sinh, tập trung vào tầm quan trọng chiến lược của đa dạng sinh học thực vật trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Khu Bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng với tổng diện tích 18.858,9 ha (trong đó rừng tự nhiên là 17.639 ha) đang chịu áp lực lớn từ hoạt động dân sinh, kinh tế của cộng đồng địa phương. Mục tiêu tổng quát của đề tài là xây dựng cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật, đồng thời xác định tính đa dạng của thảm thực vật và hệ thực vật, đánh giá tác động của người dân, và đề xuất các giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ.

Nghiên cứu đã phân loại thảm thực vật tự nhiên theo UNESCO (1973), xác định 10 quần hệ và 9 phân quần hệ thuộc 4 lớp (rừng kín, rừng thưa, thảm cây bụi, thảm cỏ). Lớp quần hệ rừng kín có tính đa dạng cao nhất, với cấu trúc 3 tầng, tuy nhiên nhiều loài gỗ quý đã bị khai thác. Luận án đã thống kê được 611 loài, 344 chi, 107 họ thực vật thân gỗ thuộc 2 ngành (Pinophyta và Magnoliophyta), trong đó ngành Mộc lan đa dạng nhất (chiếm 99,02% số loài). Kết quả này đã bổ sung 24 loài, 1 họ, 9 chi vào danh lục thực vật thân gỗ của khu vực.

Về dạng sống, nhóm cây gỗ vừa (chiều cao 8-25m) chiếm tỷ lệ cao nhất (28,97%). Phân bố địa lý cho thấy 98,85% số loài có vùng phân bố xác định, trong đó 94,11% thuộc vùng nhiệt đới, chủ yếu là nhiệt đới châu Á (67,1%). Về giá trị sử dụng, các loài cây làm thuốc (52,86%) và cây cho gỗ (50,74%) là phổ biến nhất. Đề tài cũng chỉ ra 49 loài thực vật thân gỗ quý hiếm, trong đó 44 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và 16 loài trong Danh lục đỏ IUCN (2013). Các chỉ số đa dạng cho thấy rừng kín thường xanh cây lá rộng phục hồi tự nhiên trên núi đá vôi ở địa hình thấp có đa dạng loài cao nhất.

Các tác động tiêu cực chính từ người dân địa phương bao gồm khai thác gỗ trái phép, khai thác củi, phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản ngoài gỗ, chăn thả gia súc và khai thác khoáng sản. Để đối phó với những thách thức này, luận án đề xuất các giải pháp như nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường năng lực quản lý cho cán bộ kiểm lâm và chính quyền địa phương, nghiêm cấm khai thác các loài quý hiếm, quy hoạch bãi chăn thả gia súc, và xây dựng vườn thực vật để bảo tồn ngoại vi. Đồng thời, kiến nghị cần có nghiên cứu sâu hơn về các loài thực vật thân gỗ quý hiếm và nhu cầu sử dụng tài nguyên của người dân.

Tài liệu liên quan