ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ, ẨM ĐỘ VÀ THỨC ĂN ĐẾN SỰ GIA TĂNG QUẦN THỂ CỦA NHỆN BẮT MỒI Neoseiulus longispinosus Evans VÀ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CHÚNG TRONG PHÒNG CHỐNG SINH HỌC NHỆN ĐỎ CAM CHANH Panonychus citri McGregor (Acari: Tetranychidae)
BẢO VỆ THỰC VẬT
Luận án này nghiên cứu "Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn đến sự gia tăng quần thể của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McGregor (Acari: Tetranychidae)". Nhện đỏ cam chanh P. citri là dịch hại hàng đầu trên cây ăn quả có múi tại Việt Nam, gây thiệt hại nghiêm trọng và có khả năng kháng thuốc cao. Trong bối cảnh chưa có loài nhện bắt mồi được nhân nuôi công nghiệp để phòng chống P. citri, đề tài này tập trung vào việc xác định các điều kiện sinh thái tối ưu cho sự phát triển và gia tăng quần thể của N. longispinosus, một thiên địch bản địa, cũng như đánh giá khả năng ứng dụng chúng trong phòng chống sinh học P. citri tại Hà Nội.
Nghiên cứu đã xác định được các điều kiện môi trường lý tưởng cho N. longispinosus. Về nhiệt độ, nhện bắt mồi phát triển tốt nhất trong khoảng 25°C đến 32,5°C, với vòng đời ngắn nhất ở 30°C (4,81 ngày) và tỷ lệ tăng tự nhiên cao nhất ở 30°C (0,323). Mức nhiệt độ 27,5°C cũng cho thấy số trứng trung bình cao nhất (43,76 quả). Về ẩm độ, N. longispinosus phát triển tối ưu trong khoảng 75-85%, với vòng đời ngắn nhất ở 85% (5,58 ngày) và tỷ lệ tăng tự nhiên cao nhất ở 85% (0,318). Ba loài thức ăn tự nhiên tốt nhất cho sự gia tăng quần thể của N. longispinosus là nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae, nhện đỏ son T. cinnabarinus và nhện đỏ cam chanh P. citri. Ngược lại, nhện bắt mồi không phát triển hoặc chỉ sống đến tuổi non 2 khi nuôi bằng nhện kho hoặc phấn hoa.
Kết quả thực nghiệm cho thấy N. longispinosus là thiên địch phổ biến trên cây bưởi Diễn tại Chương Mỹ, Hà Nội. Mật độ của N. longispinosus trên bưởi Diễn đạt cao nhất vào tháng 5 (6,72 con/lá) và thấp nhất vào tháng 1 (0,95 con/lá), tương ứng với sự biến động của mật độ nhện đỏ cam chanh P. citri. Đánh giá khả năng khống chế cho thấy trong nhà lưới, N. longispinosus đạt hiệu lực cao nhất (90,98%) ở tỷ lệ 1:20 (NBM:P. citri) sau 20 ngày lây thả. Ngoài đồng ruộng, hiệu lực khống chế đạt 83,10-83,80% sau 50-60 ngày.
Những đóng góp mới của đề tài bao gồm nghiên cứu hệ thống về ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến N. longispinosus và xác định khả năng sử dụng chúng trong phòng chống sinh học P. citri. Các kết quả này cung cấp dẫn liệu khoa học mới, góp phần vào việc nhân nuôi và ứng dụng N. longispinosus như một biện pháp quản lý dịch hại bền vững, an toàn và hiệu quả cho cây ăn quả có múi, hạn chế sử dụng thuốc hóa học.