Tên luận án:
Không có thông tin về tên luận án trong văn bản được cung cấp.
Ngành:
Không có thông tin về ngành trong văn bản được cung cấp.
Tóm tắt nội dung tài liệu:
Nhiễm virus viêm gan B (VRVGB) là một vấn đề y tế toàn cầu nghiêm trọng, với khoảng 2 tỷ người bị nhiễm và 350 triệu người mang VRVGB mạn tính, gây ra khoảng 1 triệu ca tử vong hàng năm do ung thư gan nguyên phát và xơ gan. Việt Nam là một trong những khu vực có tỷ lệ lưu hành HBsAg cao nhất thế giới, từ 10-25%. Phương thức lây truyền dọc từ mẹ sang con là chủ yếu ở các vùng có tỷ lệ lưu hành cao, với nguy cơ nhiễm mạn tính lên tới 70-90% nếu mẹ đồng thời mang HBsAg và HBeAg, và khoảng 20% nếu mẹ có HBeAg(-).
Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ được tiêm vắcxin viêm gan B (VGB) trong vòng 24 giờ đầu sau sinh đã giảm đáng kể từ 67,0% (năm 2006) xuống 24,0% (năm 2007) và 22,0% (năm 2008) do thông tin về tai biến sau tiêm phòng. Việc tiêm phòng muộn này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả phòng bệnh. Thực tế này đòi hỏi có những bằng chứng khoa học để nâng cao hiệu quả phòng bệnh viêm gan B ở nước ta. Đề tài nghiên cứu này được thực hiện nhằm ba mục tiêu chính: (1) Mô tả hiện trạng nhiễm VRVGB ngay sau sinh ở con của các bà mẹ có HBsAg(+) khi sinh; (2) Đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch chống VRVGB của trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg(+) sau tiêm phòng vắcxin VGB; (3) Khảo sát mối liên quan giữa một số dấu ấn VRVGB trong máu mẹ, máu cuống rốn với mức độ đáp ứng miễn dịch của trẻ sau tiêm phòng đủ 4 mũi vắcxin VGB.
Luận án đóng góp mới bằng việc thực hiện công trình nghiên cứu cơ bản về đánh giá đáp ứng tạo kháng thể đối với vắcxin VGB ở trẻ có mẹ HBsAg(+). Các kết quả nghiên cứu bao gồm việc tìm ra tỷ lệ nhiễm VRVGB ngay sau sinh ở trẻ có mẹ HBsAg(+), tỷ lệ trẻ có đáp ứng miễn dịch bảo vệ, tỷ lệ tiêm chủng thành công, tỷ lệ tiêm chủng thất bại, và tỷ lệ trẻ có HBsAg(+) ở thời điểm 12 tháng tuổi sau khi đã tiêm phòng vắcxin VGB theo phác đồ 4 mũi 0-1-2-11 tháng (trong đó mũi sơ sinh được tiêm trong vòng 24 giờ đầu). Đồng thời, luận án cũng khảo sát mối liên quan giữa kết quả tiêm phòng với sự có mặt của các dấu ấn VRVGB trong máu mẹ và máu cuống rốn.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2006 đến 12/2010, với 335 bà mẹ có thai HBsAg(+) và 335 trẻ sơ sinh con của họ tại Hà Nội và Thái Bình. Trong số đó, 246 trẻ tham gia đầy đủ vào nghiên cứu can thiệp tiêm phòng vắcxin VGB. Phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu cắt ngang quan sát mô tả đánh giá tỷ lệ lây truyền VRVGB từ mẹ sang con ngay sau sinh và nghiên cứu can thiệp tại cộng đồng. Vắcxin Engerix B được sử dụng, và các xét nghiệm được thực hiện bằng dàn máy ELISA của BIO-RAD tại Labo Miễn dịch-Trường Đại học Y Hà Nội. Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 10.01. Kết quả ban đầu cho thấy, trong máu cuống rốn, tỷ lệ HBsAg(+) là 61,5% và tỷ lệ HBeAg(+) là 13,7%.
Mục lục chi tiết:
- Đặt vấn đề (2 trang)
- Tổng quan (36 trang)
- Virus viêm gan B VRVGB
- Dịch tễ học của nhiễm virus viêm gan B
- 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính sinh miễn dịch của vắcxin viêm gan B trên trẻ có mẹ mang HBsAg
- 1.3.1. Đối tượng tiêm vắcxin:
- 1.3.2. Đường tiêm:
- 1.3.3. Tiêm đồng thời hoặc phối hợp với các vắcxin khác
- 1.3.4. Nhiệt độ bảo quản vắcxin
- 1.3.5. Lịch tiêm vắcxin
- 1.3.9. Tình trạng nhiễm VRVGB ở mẹ
- 1.3.10. Tình trạng lây truyền của VRVGB trong tử cung
- 1.3.11. Các biện pháp điều trị khi mang thai
- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (24 trang)
- 2.1.2. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12-2006 đến 12-2010.
- 2.1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Phụ nữ có thai: tổng cộng có 335 bà mẹ được chọn vào nghiên cứu từ tháng 12-2006 đến 12-2009 tại Hà Nội và Thái Bình.
- Trẻ sơ sinh: 335/335 trẻ sơ sinh con của các bà mẹ có HBsAg(+) có lấy máu cuống rốn, được chọn vào nghiên cứu cắt ngang đánh giá tỷ lệ lây truyền VRVGB từ mẹ sang con ngay sau sinh. Có 246 trẻ tham gia đầy đủ vào nghiên cứu can thiệp bằng tiêm phòng vắcxin VGB theo phác đồ 0-1-2-11 tháng trong đó mũi vắcxin VGB sơ sinh được tiêm trong vòng 24 giờ đầu.
- 2.2. Phương pháp nghiên cứu:
- 1.Nghiên cứu cắt ngang quan sát mô tả đánh giá tỷ lệ lây truyền VRVGB từ mẹ sang con ngay sau khi sinh
- 2.Nghiên cứu can thiệp tại cộng đồng sử dụng nghiên cứu đối chứng trước sau bằng tiêm vắcxin phòng VGB cho trẻ có mẹ mang HBsAg khi sinh theo lịch tiêm 0-1-2-11 tháng và đánh giá hiệu quả sau tiêm phòng.
- 2.3. Vật liệu máy móc trang thiết bị nghiên cứu
- 2.3.1. Vật liệu nghiên cứu: Vắcxin Engerix B, bệnh án nghiên cứu.
- 2.3.2. Máy móc trang thiết bị nghiên cứu:
- Dàn máy ELISA của BIO-RAD được trang bị tại Labo Miễn dịch- Trường Đại học Y Hà nội.
- Tủ lạnh sâu -20 0 C để giữ mẫu
- 2.4. Xử lý số liệu
- Phân loại kết quả sau tiêm phòng khi trẻ 12 tháng tuổi:
- Trẻ có VRVGB là trẻ có xét nghiệm HBsAg(+).
- Trẻ không có VRVGB là trẻ có xét nghiệm HBsAg(-).
- Trẻ tiêm chủng thành công là trẻ có xét nghiệm HBsAg(-) và định lượng kháng thể anti-HBs≥ 10mUI/ml.
- Trẻ tiêm chủng thất bại là trẻ có xét nghiệm HBsAg(+) hoặc xét nghiệm HBsAg(-) nhưng anti-HBs <10mUI/ml.
- Trẻ có đáp ứng miễn dịch dưới ngưỡng bảo vệ là trẻ có kháng thể 0≤ anti-HBs <10mUI/ml.
- Trẻ có đáp ứng miễn dịch yếu là trẻ có kháng thể 10mUI/ml ≤ anti-HBs ≤ 100mUI/ml.
- Trẻ có đáp ứng miễn dịch tốt là trẻ có kháng thể anti-HBs≥ 100mUI/ml.
- Sử dụng phần mềm thống kê SPSS trong Windows phiên bản 10.01.
- 2.5. Hạn chế sai số
- Chỉ có một nhóm nghiên cứu duy nhất tiến hành nghiên cứu tại một cơ sở lấy số liệu.
- Các nhóm nghiên cứu được tập huấn chung trước khi nghiên cứu và chịu sự giám sát chung của ban chủ nhiệm đề tài.
- Tất cả các bệnh phẩm đều được xét nghiệm tại khoa Miễn dịch- Sinh lý bệnh Đại học Y Hà nội.
- Máy móc, dụng cụ, trang thiết bị nghiên cứu được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế và tiêu chuẩn quốc tế.
- Kết quả nghiên cứu (30 trang)
- 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
- 3.2. Hiện trạng nhiễm VRVGB của trẻ ngay sau khi sinh
- 3.2.1. Tỷ lệ các dấu ấn VRVGB trong máu mẹ
- 3.2.2. Tỷ lệ các dấu ấn VRVGB trong máu cuống rốn con
- 3.2.3. Liên quan giữa sự có mặt của các dấu ấn VRVGB ...
- Bàn luận (36 trang)
- Kết luận (2 trang)
- Kiến nghị (1 trang)