NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỐT RÉT VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT TẠI MỘT SỐ XÃ BIÊN GIỚI CỦA HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
Y TẾ CÔNG CỘNG
Luận án "Nghiên cứu thực trạng sốt rét và đánh giá kết quả can thiệp phòng chống sốt rét tại một số xã biên giới của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị" tập trung vào vấn đề sốt rét, một thách thức sức khỏe cộng đồng lớn trên toàn cầu và tại Việt Nam, đặc biệt ở các khu vực biên giới. Huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, được xác định là vùng lưu hành sốt rét nặng do hoạt động giao lưu qua biên giới với Savannakhet (Lào) làm phức tạp tình hình dịch tễ.
Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính: một là mô tả tình hình, đặc điểm dịch tễ sốt rét và các yếu tố liên quan tại các xã biên giới của huyện Hướng Hóa; hai là đánh giá kết quả của các can thiệp phòng chống sốt rét tại các xã được nghiên cứu. Luận án mang đến những điểm mới về khoa học như việc xây dựng mô hình phòng chống sốt rét tại hộ gia đình phối hợp ở vùng biên giới, lần đầu tiên thực hiện khảo sát và phòng chống sốt rét phối hợp giữa hai tỉnh thuộc hai quốc gia, và phát hiện loài ký sinh trùng sốt rét mới *Plasmodium knowlesi* tại Quảng Trị. Về giá trị thực tiễn, nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả và khả thi của mô hình can thiệp tại hộ gia đình, hỗ trợ quản lý và điều trị bệnh nhân sốt rét do giao lưu biên giới, đồng thời cung cấp dữ liệu chính xác về tình hình dịch tễ sốt rét.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân sốt rét tại huyện Hướng Hóa giai đoạn 2005-2009 trung bình là 19,9‰, có xu hướng giảm. Tại các xã biên giới, tỷ lệ mắc sốt rét trung bình là 66,5‰. Năm 2010, tỷ lệ hiện mắc sốt rét là 2,6‰, với các yếu tố liên quan như trình độ học vấn, hoạt động đi Lào, nhà gần rừng, mùa mưa và việc không sử dụng màn khi ngủ. Sau hai năm can thiệp, mô hình phòng chống sốt rét tại hộ gia đình đã cho thấy hiệu quả tích cực: tỷ lệ mắc sốt rét tại xã can thiệp giảm từ 2,2‰ xuống 0,7‰ (hiệu quả can thiệp 26,3%), tỷ lệ mắc ký sinh trùng sốt rét giảm từ 1,7‰ xuống 0,5‰ (hiệu quả can thiệp 28,9%), và tỷ lệ phát hiện, điều trị bệnh nhân sốt rét tại hộ gia đình đạt 25%. Kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng chống sốt rét của người dân cũng được cải thiện đáng kể. Thành phần loài véc tơ sốt rét giảm từ 18 xuống 10 loài, mật độ muỗi *Anopheles* chung giảm rõ rệt. Các hoạt động phối hợp phòng chống sốt rét qua biên giới cũng được thực hiện hiệu quả.
Nghiên cứu khuyến nghị tiếp tục điều tra về tỷ lệ hiện mắc và vai trò gây bệnh của *P. knowlesi*, cùng với các nghiên cứu sâu hơn về sinh học phân tử và dịch tễ học sốt rét tại Quảng Trị, đặc biệt ở những vùng sâu, rừng núi biên giới.