Thông tin về tên luận án không được cung cấp tường minh trong văn bản.
Chăn nuôi
Luận án này tập trung nghiên cứu về năng suất sinh sản của cút Nhật Bản, một loài vật nuôi quan trọng nhưng đang đối mặt với thách thức về năng suất do tình trạng pha tạp và thiếu chọn lọc. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của việc chọn lọc thông qua kiểu gen để cải thiện năng suất, khả năng thích ứng với môi trường và duy trì đa dạng di truyền. Các gen ứng viên như prolactin (PRL), Growth Hormone (GH), Bone Morphogenetic Protein Receptor-Type IB (BMPR-1B), và Melatonin receptor-Type 1C (MTNR-1C) được xác định có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản ở gia cầm.
Mục tiêu chính của luận án bao gồm đánh giá thực trạng chăn nuôi và tính đa dạng kiểu hình của cút tại 6 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), xác định năng suất đẻ trứng và ảnh hưởng của tuổi, khối lượng đến chất lượng trứng. Đồng thời, nghiên cứu nhằm xác định các vị trí đa hình trên các gen ứng viên và phân tích mối liên kết của chúng với năng suất sinh sản, từ đó chọn lọc và đánh giá nhóm cút mang gen liên quan đến năng suất trứng.
Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2014 đến 2016, bao gồm điều tra thực trạng chăn nuôi và đặc điểm ngoại hình của cút Nhật Bản tại ĐBSCL, theo dõi năng suất sinh sản tại trại chăn nuôi thực nghiệm Trường Đại học Trà Vinh, và phân tích sinh học phân tử tại Trường Đại học Cần Thơ. Đối tượng thí nghiệm gồm các thế hệ cút xuất phát (580 con), thế hệ 1 (344 con) và thế hệ 2 (160 con).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp điều tra, thí nghiệm nuôi dưỡng và phân tích đa hình gen bằng kỹ thuật PCR-RFLP và PCR-SSCP cho các gen PRL, GH (thế hệ xuất phát), MTNR-1C và BMPR-1B (thế hệ 1). Luận án đã phát hiện các điểm đa hình của một số gen liên quan đến năng suất sinh sản, xác định mối liên quan giữa các gen ứng viên với năng suất sinh sản và năng suất trứng, đồng thời chọn lọc được nhóm cút có năng suất sinh sản cao.
Kết quả ban đầu cho thấy cút ở ĐBSCL được nuôi nhốt trong lồng, với các phương thức thâm canh và bán thâm canh. Cút có đặc điểm ngoại hình đa dạng về màu lông (đầu, ức) và màu chân. Khối lượng trung bình cút mái là 206g, cút trống 178,5g, với mối tương quan dương giữa khối lượng và một số chỉ tiêu kích thước. Tổng số trứng trung bình sau 48 tuần đẻ là 261,7 quả/mái, tỷ lệ đẻ đạt cao nhất từ tuần 9-16. Các gen GH và PRL đã được khuếch đại thành công.