NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN RUNG NHĨ Ở BỆNH NHÂN CƯỜNG GIÁP VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
Y học
Luận án này tập trung nghiên cứu các yếu tố liên quan đến rung nhĩ (RN) ở bệnh nhân cường giáp và đánh giá kết quả điều trị. Rung nhĩ được xác định là nguyên nhân quan trọng gây suy tim, tai biến mạch não, thậm chí là tử vong ở bệnh nhân cường giáp.
Nghiên cứu được thực hiện trên 57 bệnh nhân cường giáp có rung nhĩ (Nhóm A) và 57 bệnh nhân cường giáp có nhịp xoang (Nhóm B). Kết quả cho thấy, nhóm bệnh nhân cường giáp có rung nhĩ thường có tuổi trung bình cao hơn (54,05 ± 11,19 so với 46,85 ± 13,16, p < 0,01) và thời gian bị cường giáp kéo dài hơn (5,57 ± 10,87 tháng so với 2,07 ± 2,21 tháng, p < 0,05) so với nhóm nhịp xoang. Tỷ lệ suy tim ở nhóm rung nhĩ cũng cao gấp 10 lần (35,9% so với 3,51%).
Về các thông số siêu âm tim, nhóm bệnh nhân rung nhĩ có kích thước nhĩ trái lớn hơn đáng kể (trung bình 36,87 ± 6,17 mm so với 32,94 ± 6,26 mm, p < 0,001), với 52,63% có nhĩ trái to (>35mm). Áp lực động mạch phổi trung bình ở nhóm rung nhĩ cũng cao hơn (43,98 ± 11,09 mmHg so với 34,64 ± 8,41 mmHg, p < 0,001) và tỷ lệ tổn thương hở van tim tổng thể cao hơn đáng kể (84,21% so với 40,35%, p < 0,001).
Về kết quả điều trị, sau 6 tháng, 57,89% bệnh nhân rung nhĩ đã tự chuyển về nhịp xoang, trong đó 91,91% chuyển nhịp trong 16 tuần đầu điều trị. Các yếu tố liên quan đến khả năng chuyển nhịp xoang bao gồm thời gian có triệu chứng cường giáp ngắn hơn (p < 0,05), thời gian bị rung nhĩ dưới 1 tháng (khả năng chuyển nhịp cao gấp 3,1 lần) và kích thước nhĩ trái nhỏ hơn (nguy cơ duy trì RN cao gấp 4,74 lần nếu nhĩ trái > 40mm, p < 0,05). Áp lực động mạch phổi cao cũng làm giảm khả năng chuyển nhịp (nguy cơ duy trì RN cao gấp 10,67 lần nếu áp lực ĐM phổi > 55mmHg, p < 0,05).