NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ GIỮ NƯỚC CỦA RỪNG PHỤC VỤ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HỒ THỦY ĐIỆN Ở VIỆT NAM
Lâm sinh
Luận án "Nghiên cứu hiệu quả giữ nước của rừng phục vụ chi trả dịch vụ môi trường đối với hồ thủy điện ở Việt Nam" của Nguyễn Phúc Thọ, được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp vào năm 2020, là một công trình nghiên cứu cấp thiết nhằm bổ sung cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại Việt Nam. Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ thực trạng chính sách DVMTR vẫn chưa được giải quyết triệt để, đặc biệt là việc xác định giá trị và mức chi trả chưa có nền tảng khoa học vững chắc, làm giảm hiệu quả trong việc giáo dục nhận thức về giá trị môi trường rừng.
Mục tiêu chung của luận án là cung cấp cơ sở lý luận và khoa học để xác định chính xác vai trò và giá trị giữ nước của rừng, đặc biệt đối với các hồ thủy điện. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: xác định giá trị giữ nước của rừng tại các vùng hồ thủy điện và xây dựng khung giá trị dịch vụ giữ nước của rừng làm cơ sở đề xuất mức chi trả DVMTR phù hợp. Đối tượng nghiên cứu tập trung vào khả năng giữ nước của rừng ở một số cơ sở sản xuất thủy điện trên 66 lưu vực hồ thủy điện tại Việt Nam, sử dụng số liệu thu thập trong hai năm 2012 và 2013.
Luận án đã đạt được những đóng góp quan trọng về mặt lý luận, khoa học và thực tiễn. Về lý luận và khoa học, nghiên cứu đã bổ sung phương pháp luận cho việc đánh giá khả năng giữ nước của rừng và cung cấp cơ sở dữ liệu chính sách DVMTR. Về kết quả và kết luận, luận án đã xác định được đặc điểm các lưu vực, vai trò và giá trị giữ nước của rừng trong mùa khô, xây dựng khung giá trị dịch vụ theo nguồn gốc, loại và trạng thái rừng, đồng thời đề xuất mức chi trả DVMTR cụ thể cho các cơ sở sản xuất thủy điện. Các kết quả chính cho thấy hiệu quả giữ nước của mỗi hecta rừng dao động từ 1.839 đến 4.565 m³/ha, với giá trị trung bình cả nước là 2.668 m³/ha. Giá trị giữ nước của một hecta rừng quy chuẩn trung bình cả nước là 836.970 đ và trung bình trên 1 kWh điện là 199 đ. Luận án cũng đã xây dựng các hệ số hiệu chỉnh K cho các loại rừng (tự nhiên, trồng), trạng thái rừng (giàu, trung bình, nghèo) và nguồn gốc rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) để tính toán mức chi trả. Đề xuất mức chi trả chung cho các nhà máy thủy điện là 50 đ/kWh, tương đương 25% doanh thu tăng thêm nhờ dịch vụ môi trường rừng và 4% giá bán điện hiện nay. Mức chi trả này giúp hỗ trợ các nhà quản lý trong việc lập quy hoạch, kế hoạch và tính toán DVMTR, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam.