NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI ĐỘ NGƯNG TẬP TIỂU CẦU, SỐ LƯỢNG TIỂU CẦU, NỒNG ĐỘ FIBRINOGEN Ở BỆNH NHÂN ĐAU THẮT NGỰC ỔN ĐỊNH ĐƯỢC CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA CÓ SỬ DỤNG CLOPIDOGREL
Không được đề cập rõ ràng trong văn bản.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá sự biến đổi độ ngưng tập tiểu cầu (NTTC), số lượng tiểu cầu (TC) và nồng độ fibrinogen ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định (ĐTNÔĐ) đã được can thiệp động mạch vành (ĐMV) qua da có sử dụng clopidogrel. Đau thắt ngực ổn định được nhận định là một loại bệnh nguy hiểm và khá thường gặp.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân ĐTNÔĐ điển hình, được chỉ định chụp và can thiệp ĐMV qua da theo khuyến cáo của Hội Tim Mạch Việt Nam 2008, và chưa sử dụng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu trước đó. Phác đồ điều trị bao gồm Aspirin 100 mg/ngày và Clopidogrel (Plavix 75 mg/ngày) tối thiểu 4 ngày trước can thiệp; nếu chưa đủ, bệnh nhân sẽ được dùng liều nạp clopidogrel. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS statistics 18.0. Các chỉ số được theo dõi tại các thời điểm trước can thiệp, sau can thiệp 5 ngày, 3 tháng và 6 tháng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Độ NTTC ở các thời điểm sau can thiệp (5 ngày, 3 tháng, 6 tháng) đều giảm rõ rệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) so với trước can thiệp, trong đó mức giảm thấp nhất ghi nhận sau 5 ngày (p < 0,01). Số lượng TC giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) sau 5 ngày can thiệp so với trước can thiệp, đạt mức thấp nhất tại thời điểm này. Nồng độ fibrinogen lại tăng cao rõ rệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) sau 5 ngày can thiệp so với trước can thiệp, và cũng đạt mức cao nhất tại thời điểm này (p < 0,05 so với 3 tháng và 6 tháng).
Về đáp ứng với clopidogrel, tỷ lệ bệnh nhân không đáp ứng với thuốc tăng dần theo thời gian sau can thiệp (8,9% sau 5 ngày, 21,5% sau 3 tháng và 22,8% sau 6 tháng). Mối liên quan với các yếu tố nguy cơ cho thấy độ NTTC trước can thiệp cao hơn rõ rệt ở nhóm can thiệp 2 ĐMV, bệnh nhân tăng huyết áp, hút thuốc lá và có rối loạn chuyển hóa lipid máu (p < 0,05 hoặc p < 0,001). Nồng độ fibrinogen trước can thiệp cao hơn ở nhóm đặt 2 stent trở lên (p < 0,05). Đặc biệt, độ NTTC có xu hướng tăng dần theo số lượng yếu tố nguy cơ (p < 0,001).