info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu điều trị viêm xương tủy xương đường máu trẻ em

Năm2018
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm xương tủy xương đường máu cấp tính

Ngành:

Y học (Chấn thương chỉnh hình, Nhi khoa, Bệnh truyền nhiễm)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Tài liệu này trình bày về bệnh viêm xương tủy xương đường máu (VXTXĐM) cấp tính, một bệnh lý chủ yếu gặp ở trẻ em với tổn thương thường ở các đầu xương dài. Vi khuẩn gây bệnh phổ biến là tụ cầu vàng và liên cầu khuẩn tan huyết. Cơ chế bệnh sinh của VXTXĐM cấp tính đa dạng, bao gồm các thuyết về chấn thương, giải phẫu mạch máu vùng viêm và suy giảm miễn dịch. Bệnh có thể biểu hiện dưới ba thể lâm sàng cấp tính: nhiễm độc, nhiễm khuẩn huyết và cấp tính khu trú, đồng thời được phân chia thành giai đoạn cấp tính và mạn tính theo Bernard F. Morrey (1975) và Neil F. Green (1987).

Về phương pháp điều trị, tài liệu đề cập đến kỹ thuật cải biên của Nguyễn Ngọc Hưng (1984) với việc khoan xương và bơm kháng sinh trực tiếp hàng ngày. Kết quả điều trị được phân loại theo Nguyễn Như Chiến (1994) thành loại tốt (không có vấn đề) và loại xấu (tái phát, di chứng vận động, viêm mạn tính). Nghiên cứu thực hiện trên 92 bệnh nhân VXTXĐM cấp tính tại khoa CTCH-Bỏng Bệnh viện, cho thấy vị trí viêm thường gặp nhất là ở xương cẳng chân (48,9%), đặc biệt là đầu dưới xương đùi (44,2%) và đầu trên xương cẳng chân (44,7%). Các xét nghiệm cận lâm sàng ghi nhận tốc độ máu lắng tăng ở 97,7% trường hợp, cấy máu dương tính 56,1% và cấy mủ dương tính 47,9%. Vi khuẩn chiếm ưu thế trong các mẫu cấy mủ là Staphylococcus aureus (91,3%).

Hình ảnh X-quang ban đầu cho thấy 100% không có tổn thương xương trong 10 ngày đầu, sau đó xuất hiện phản ứng cốt mạc và bồi đắp xương. Các phương pháp điều trị phẫu thuật chính bao gồm khoan xương tưới rửa kháng sinh liên tục và mở cửa sổ xương nạo ổ viêm tưới rửa kháng sinh, mỗi phương pháp chiếm 36,9% số ca. Kết quả điều trị khi ra viện và sau 6 tháng tái khám cho thấy các phương pháp phẫu thuật đều đạt tỷ lệ tốt cao (khoan xương tưới rửa kháng sinh đạt 96,4% khi ra viện và 95,8% sau 6 tháng; mở cửa sổ nạo ổ viêm đạt 92,0% khi ra viện và 90,5% sau 6 tháng). Thời gian nằm viện trung bình là 14,45 ngày. Triệu chứng sốt phổ biến khi nhập viện nhưng giảm dần sau 2 tuần.

Mục lục chi tiết:

  • ĐẶT VẤN ĐỀ

  • Chương 1 Tổng quan

    • 43 trang
  • Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

    • 16 trang
  • Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Tài liệu liên quan