Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI GF24 ĐƯỢC PHỐI VỚI CÁC DÒNG ĐỰC GF337, GF280, GF399 VÀ SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA ĐỜI CON NUÔI TẠI MIỀN TRUNG
Chăn nuôi
Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái GF24 khi được phối với ba dòng đực khác nhau là GF337, GF280, và GF399, đồng thời khảo sát sức sản xuất và chất lượng thịt của đời con lai được nuôi tại khu vực miền Trung Việt Nam. Đề tài đã tiến hành nghiên cứu sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của các tổ hợp lai trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp chuồng hở, cũng như phân tích sức sản xuất thịt của các tổ hợp lai trong các điều kiện chuồng nuôi và khối lượng giết mổ khác nhau.
Kết quả cho thấy, lợn nái GF24 thể hiện tuổi thành thục sinh dục (175,1 ngày), tuổi phối giống lần đầu (229,8 ngày) và tuổi đẻ lứa đầu (353,7 ngày) khá sớm, với thời gian động dục tương đối ngắn (7,4±0,6 giờ). Khi phối với các dòng đực, năng suất sinh sản của nái GF24 có sự khác biệt đáng kể. Cụ thể, tổ hợp lai với đực GF337 cho số con sơ sinh trên ổ cao nhất (13,23 con), mặc dù số con cai sữa (11,58 con/ổ) và khối lượng cai sữa trung bình mỗi con (5,89 kg/con) có xu hướng thấp hơn một chút so với các tổ hợp lai với đực GF280 (11,92 con/ổ và 6,00 kg/con) và GF399 (11,91 con/ổ và 5,93 kg/con). Khoảng cách lứa đẻ của nái phối với GF337 (145,81 ngày) cũng ngắn hơn so với nái phối với GF280 (148,08 ngày). Năng suất sinh sản cũng biến động theo lứa đẻ, với thời gian nuôi con, khoảng cách phối giống lại sau cai sữa và khoảng cách lứa đẻ có sự thay đổi rõ rệt.
Về sức sản xuất thịt, các tổ hợp lai đều đạt khối lượng cao ở các giai đoạn tuổi khác nhau. Tổ hợp GF337xGF24 nổi bật với khối lượng cơ thể cao hơn ở 60, 90 và 120 ngày tuổi so với các tổ hợp khác. Khả năng tăng khối lượng hàng ngày của ba tổ hợp lai đều tốt và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong hầu hết các giai đoạn, trừ giai đoạn cuối (120-150 ngày tuổi) khi GF337xGF24 (2,99a kg) và GF280xGF24 (2,93ab kg) cho tăng khối lượng cao hơn GF399xGF24 (2,65b kg). Khả năng thu nhận thức ăn của các tổ hợp lai được đánh giá là khá tốt, và mặc dù hệ số chuyển hóa thức ăn của GF399xGF24 có xu hướng thấp hơn, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
Phân tích chất lượng thân thịt chỉ ra rằng khối lượng giết thịt của GF337xGF24 (98,33a kg) và GF280xGF24 (98,17a kg) cao hơn GF399xGF24 (94,67b kg). Đặc biệt, tỷ lệ nạc của tổ hợp GF399xGF24 (64,33a %) cao hơn đáng kể so với hai tổ hợp còn lại (GF337xGF24 là 61,50ab % và GF280xGF24 là 59,67b %). Các chỉ tiêu khác như tỷ lệ thịt móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, diện tích mắt thịt và độ dày mỡ lưng tại các vị trí đo không bị ảnh hưởng bởi tổ hợp lai. Về chất lượng thịt, pH 24 giờ sau giết mổ của tổ hợp GF280xGF24 (6,00a) cao hơn GF337xGF24 (5,86b).
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên