NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE ĐỐI VỚI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI XÃ KIẾN THIẾT VÀ KIỀN BÁI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG NĂM 2014 - 2016
Y TẾ CÔNG CỘNG (Mã số: 62 72 03 01)
Luận án tiến sĩ Y tế công cộng này tập trung nghiên cứu thực trạng và hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) đối với Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) tại hai xã Kiến Thiết và Kiền Bái, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2014-2016. BPTNMT là một bệnh lý phổ biến, có xu hướng gia tăng, với các yếu tố nguy cơ chính như hút thuốc và ô nhiễm môi trường. Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về bệnh của người dân còn nhiều hạn chế, dẫn đến tỷ lệ mắc chưa được chẩn đoán cao.
Nghiên cứu được thực hiện với ba mục tiêu chính: (1) Xác định tỷ lệ mắc và các yếu tố liên quan đến BPTNMT ở người dân từ 40 tuổi trở lên tại hai xã từ tháng 10/2014 đến tháng 4/2015; (2) Mô tả thực trạng KAP của người dân và người bệnh về BPTNMT trong cùng thời gian; và (3) Đánh giá hiệu quả của can thiệp TTGDSK sau một năm tại xã Kiến Thiết.
Kết quả nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở người từ 40 tuổi trở lên là 5,9% (Kiến Thiết 7,0%; Kiền Bái 5,0%). Nam giới có nguy cơ mắc cao gấp 1,82 lần so với nữ (8,7% so với 3,7%). Người hút thuốc có nguy cơ mắc BPTNMT cao gấp 2,72 lần so với người không hút thuốc (9,2% so với 3,6%), đặc biệt hút thuốc lào có nguy cơ cao hơn hút thuốc lá. Các yếu tố liên quan chính bao gồm tuổi cao, giới tính nam, mức độ hút thuốc, học vấn thấp và phơi nhiễm khói bếp trên 30 năm. Đáng chú ý, 91,3% bệnh nhân mới được chẩn đoán, và 66,4% bệnh nhân ở giai đoạn tắc nghẽn nhẹ và trung bình.
Trước can thiệp, kiến thức tốt về BPTNMT của người dân chỉ đạt 4,7%, thái độ tốt đạt 16,4%. Đa số (84,9%) chưa biết tên bệnh, và kiến thức về triệu chứng, nguyên nhân còn rất hạn chế. Thực hành đúng về BPTNMT hầu như không có. Sau một năm can thiệp TTGDSK, kiến thức tốt của người dân tăng đáng kể từ 4,8% lên 27,2% (hiệu quả 446,7%), thái độ tốt tăng từ 16,9% lên 57,8% (hiệu quả 242%). Tỷ lệ người biết tên bệnh tăng từ 14,9% lên 80,3%. Kiến thức về nguyên nhân (do hút thuốc, ô nhiễm môi trường) và triệu chứng (ho, khó thở, khạc đờm) cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ thực hành tốt của người bệnh tăng lên 61,9%, với việc thực hành ho có kiểm soát, thở chúm môi và sử dụng bình xịt định liều đạt hiệu quả cao. Tỷ lệ người bệnh hút thuốc giảm từ 44,7% xuống 25,5%. Tình trạng sức khỏe của người bệnh cũng được cải thiện với sự giảm đáng kể điểm trung bình mMRC, CAT và số đợt cấp.
Những đóng góp của đề tài là cung cấp dữ liệu về tỷ lệ mắc và yếu tố liên quan, chỉ ra ảnh hưởng mạnh mẽ hơn của hút thuốc lào, và phát hiện tỷ lệ lớn bệnh nhân mới được chẩn đoán. Luận án kiến nghị hệ thống y tế cần tăng cường sàng lọc, đo chức năng thông khí, thường xuyên tổ chức TTGDSK và xây dựng các câu lạc bộ BPTNMT tại cộng đồng để phát hiện sớm, phòng ngừa và điều trị hiệu quả.