NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, SIÊU ÂM DOPPLER TIM Ở BỆNH NHÂN KÊNH NHĨ THẤT BÁN PHẦN TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT
Nội Tim mạch
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân kênh nhĩ thất bán phần trước và sau phẫu thuật" của Trần Thị An, chuyên ngành Nội Tim mạch, được hoàn thành vào năm 2019. Đề tài tập trung vào kênh nhĩ thất (KNT) bán phần, một dạng dị tật tim bẩm sinh chiếm khoảng 60% tổng số KNT, đặc trưng bởi sự thiếu hụt vách hóa nhĩ thất và các bất thường đa dạng của van nhĩ thất. Mặc dù phẫu thuật sửa KNT đã được thực hiện lần đầu từ năm 1951, tỷ lệ tái phẫu thuật còn cao (10-25%) chủ yếu do sự tiến triển của hở van hai lá (HoHL) hoặc hẹp đường ra thất trái (ĐRTT), điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc theo dõi lâu dài bằng siêu âm Doppler tim.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu toàn diện về chẩn đoán, phương tiện chẩn đoán, vai trò của siêu âm Doppler tim trong chẩn đoán, tiên lượng, chỉ định phẫu thuật, các đặc điểm trước mổ ảnh hưởng đến kết quả điều trị, và các biến đổi hình thái, chức năng tim sau phẫu thuật ở bệnh nhân KNT bán phần còn hạn chế. Mục tiêu chính của nghiên cứu là khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân KNT bán phần, đồng thời đánh giá sự biến đổi của các yếu tố này sau phẫu thuật.
Nghiên cứu đã cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện về bệnh KNT bán phần ở người Việt Nam. Về lâm sàng, các triệu chứng nổi bật là khó thở (NYHA II-III chiếm 58,2%), tiếng thổi tâm thu của HoHL (88,1%) và hở van ba lá (HoBL) (53,7%). Kết quả X quang tim phổi cho thấy 94,0% có tăng chỉ số tim ngực (>50%) và 49,3% có dấu hiệu tăng tuần hoàn phổi. Điện tim đồ điển hình có trục trái (62,7%) và bloc nhánh phải không hoàn toàn (67,2%). Siêu âm tim đặc trưng bởi sự tồn tại thông liên nhĩ lỗ thứ nhất (100%) kết hợp xẻ lá trước van hai lá (97%). HoHL vừa – nhiều chiếm 86,6% và HoBL vừa – nhiều chiếm 79,1%. Sự gia tăng áp lực động mạch phổi (ALĐMP) tỷ lệ với đường kính thông liên nhĩ và thời gian thở máy sau mổ.
Sau phẫu thuật, các dấu hiệu lâm sàng cải thiện rõ rệt, với 100% bệnh nhân đạt mức NYHA I sau 1, 3, 6 tháng theo dõi. Tỷ lệ tiếng thổi tâm thu của HoHL giảm từ 88,1% xuống 15,4% và HoBL giảm từ 53,7% xuống 0% sau 6 tháng. Các chỉ số cận lâm sàng như chỉ số tim ngực và dấu hiệu tăng tuần hoàn phổi trên X quang cũng cải thiện đáng kể. Siêu âm Doppler tim cho thấy 100% không còn thông liên nhĩ tồn dư, HoHL nhiều giảm từ 65,7% xuống 7,7%, và ALĐMP tâm thu giảm có ý nghĩa từ 43,3 mmHg xuống 25 mmHg. Chức năng tâm thu thất trái được duy trì. Tỷ lệ tử vong sớm là 0%, tỷ lệ mổ lại không do HoHL là 3%, và tỷ lệ đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn do bloc nhĩ thất độ III là 3%.
Nghiên cứu được thực hiện trên 67 bệnh nhân tại Bệnh viện Tim Hà Nội từ tháng 1/2011 đến tháng 12/2014, với tuổi trung vị là 16 năm. Mặc dù cỡ mẫu còn nhỏ và thời gian theo dõi ngắn, các kết quả khẳng định phẫu thuật sửa KNT bán phần an toàn và hiệu quả trên nhiều lứa tuổi, cải thiện đáng kể tình trạng bệnh.