NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THUỐC BEVACIZUMAB TIÊM NỘI NHÃN PHỐI HỢP CẮT DỊCH KÍNH ĐIỀU TRỊ BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG GIAI ĐOẠT
Nhãn khoa
Luận án "Nghiên cứu sử dụng thuốc Bevacizumab tiêm nội nhãn phối hợp cắt dịch kính điều trị bệnh võng mạc đái tháo đường giai đoạn" của Nguyễn Diệu Linh, được thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội, tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp tiêm nội nhãn Bevacizumab (Avastin) kết hợp cắt dịch kính trong điều trị biến chứng xuất huyết dịch kính ở bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh. Nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị của phương pháp này.
Nghiên cứu được tiến hành trên 68 mắt của các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, mắc bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh nặng có biến chứng xuất huyết dịch kính. Đối tượng nghiên cứu được tuyển chọn và điều trị tại khoa Đáy mắt Màng bồ đào, Bệnh viện Mắt Trung ương, trong khoảng thời gian từ 01/01/2012 đến 30/12/2016. Quy trình điều trị bao gồm tiêm 0,05ml dung dịch Bevacizumab có hàm lượng 1,25mg vào buồng dịch kính, sau đó 1-2 tuần thực hiện cắt dịch kính. Các chỉ số được đánh giá bao gồm thị lực trung bình (logMar), nhãn áp, biến chứng toàn thân và tại mắt, cũng như kết quả giải phẫu sau các mốc thời gian 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi trung bình của bệnh nhân là 57,3 ± 8,4, với 91,2% có đục thể thủy tinh trước điều trị. Sau tiêm nội nhãn Bevacizumab, thị lực trung bình đạt 1,5 ± 0,39 logMar và 100% nhãn áp bình thường, với tỷ lệ biến chứng thấp (97,1% không có biến chứng). Sau phẫu thuật cắt dịch kính, thị lực trung bình cải thiện đáng kể và ổn định dần, từ 1,26 ± 0,42 logMar sau 1 tuần đến 0,78 ± 0,53 logMar sau 24 tháng. Không có mối liên quan rõ rệt giữa các yếu tố toàn thân (giới tính, tuổi, thời gian mắc bệnh đái tháo đường, điều trị đường máu, insulin, tăng huyết áp, bệnh thận) với sự tăng thị lực hoặc kết quả giải phẫu. Tuy nhiên, tỷ lệ giải phẫu thành công ở nhóm không cần phẫu thuật bổ sung (89,6%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm cần phẫu thuật bổ sung (55,6%). Việc tiêm Bevacizumab nội nhãn trước mổ giúp thoái triển tân mạch, giảm chảy máu mới và hạn chế biến chứng trong mổ, từ đó cải thiện kết quả thị lực. Biến chứng sau mổ có mối liên quan đến kết quả giải phẫu, tăng thị lực và nhóm thị lực.
Đóng góp mới của luận án là làm rõ hiệu quả điều trị của phương pháp tiêm Bevacizumab nội nhãn phối hợp cắt dịch kính trong việc xử lý biến chứng xuất huyết dịch kính ở bệnh nhân võng mạc đái tháo đường tăng sinh.
1.1. BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.1.1. Dịch tễ học của bệnh võng mạc đái tháo đường
1.1.4.4. Điều trị ngoại khoa
2.1. 1 . Tiêu chuẩn lựa chọn
3.1.1. Đặc điểm toàn thân
3.2. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
3.2.1. Đánh giá sau tiêm nội nhãn
4.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC ĐIỀU TRỊ
4.1.1. Đặc điểm toàn thân
4 . 2.1. Đánh giá sau tiêm nội nhãn