NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ VÔ CẢM TRONG MỖ VÀ GIẢM ĐAU SAU MỖ CỦA GÂY TÊ ĐÁM RỐI THẦN KINH CÁNH TAY BẰNG HỖN HỢP BUPIVACAIN - DEXMEDETOMIDIN TRONG KẾT HỢP XƯƠNG CHI TRÊN
Gây mê hồi sức
Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả vô cảm trong mổ và giảm đau sau mổ của phương pháp gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường trên xương đòn dưới hướng dẫn siêu âm, sử dụng hỗn hợp bupivacain và dexmedetomidin, so với bupivacain đơn thuần trong phẫu thuật kết hợp xương chi trên. Tổng cộng 108 bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm B (bupivacain đơn thuần 75mg) và nhóm BD (bupivacain 75mg kết hợp dexmedetomidin 100 mcg).
Kết quả cho thấy nhóm BD có thời gian khởi phát ức chế cảm giác và vận động nhanh hơn đáng kể so với nhóm B (lần lượt là 11,1 ± 4,6 phút và 19,6 ± 6,0 phút so với 17,1 ± 8,3 phút và 31,1 ± 8,7 phút, p < 0,05). Hiệu quả vô cảm trong mổ của nhóm BD đạt mức rất tốt và tốt cao hơn (94,4%) so với nhóm B (81,5%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Thời gian giảm đau sau mổ của nhóm BD cũng kéo dài hơn đáng kể (970,5 ± 309,5 phút) so với nhóm B (552,7 ± 231,2 phút, p < 0,05). Điểm VAS của nhóm BD khi nghỉ và vận động thấp hơn nhóm B tại các thời điểm 12, 16 và 24 giờ sau gây tê (p < 0,05).
Về ảnh hưởng huyết động và tác dụng không mong muốn, nhóm BD có huyết áp trung bình thấp hơn nhóm B từ phút 45 đến 120 sau gây tê (p < 0,05) và tần số tim thấp hơn từ phút 20 đến 90 sau gây tê (p < 0,05). Tỷ lệ an thần mức độ OAA/S = 4 ở nhóm BD cao hơn (87%) so với nhóm B (37%), với thời gian khởi phát an thần trung bình là 9,8 ± 3,5 phút và thời gian tác dụng là 92,7 ± 34,1 phút. Tuy nhiên, nhóm BD cũng có tỷ lệ tần số tim chậm (18,5%) và buồn nôn (7,4%) cao hơn nhóm B (1,9% và 0%), p < 0,05. Các tác dụng không mong muốn khác như hạ huyết áp và hội chứng Horner không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu kết luận rằng gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường trên xương đòn dưới hướng dẫn siêu âm bằng hỗn hợp bupivacain và dexmedetomidin là một kỹ thuật đơn giản, khởi phát vô cảm nhanh, nâng cao hiệu quả vô cảm trong mổ, kéo dài thời gian giảm đau sau mổ, ổn định huyết động, hỗ trợ an thần trong mổ và ít tác dụng không mong muốn nghiêm trọng. Phương pháp này được kiến nghị áp dụng rộng rãi trong vô cảm và giảm đau sau mổ chi trên.