NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ HOMOCYSTEIN MÁU VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TĂNG HOMOCYSTEIN Ở NGƯỜI CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Luận án "Nghiên cứu nồng độ homocystein máu và hiệu quả điều trị tăng homocystein ở người cao tuổi tăng huyết áp" tập trung vào vấn đề tỷ lệ người cao tuổi tăng huyết áp ngày càng gia tăng, kéo theo nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, trong đó có homocystein. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa nồng độ homocystein máu cao với các bệnh lý tim mạch và tăng huyết áp, đồng thời cho thấy việc sử dụng acid folic, vitamin B6 và vitamin B12 có thể giảm nồng độ homocystein.
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định nồng độ homocystein, acid folic và vitamin B12 trong máu; mối tương quan giữa nồng độ homocystein với các đặc điểm nhân trắc, lâm sàng, sinh hóa máu; và đánh giá hiệu quả điều trị tăng homocystein bằng liệu pháp phối hợp vitamin B6, B12 và acid folic ở người cao tuổi tăng huyết áp. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá yếu tố nguy cơ mới này và hiệu quả điều trị.
Nghiên cứu được thực hiện trên 120 bệnh nhân tăng huyết áp và 141 đối tượng không tăng huyết áp. Kết quả cho thấy nồng độ homocystein máu trung bình ở nhóm bệnh cao hơn đáng kể so với nhóm chứng (18,61 ± 4,45 µmol/L so với 14,87 ± 3,16 µmol/L, p15 µmol/L) ở nhóm bệnh là 79,2%, cao gấp gần 2 lần so với nhóm chứng (40,4%), với tỷ suất chênh OR=5,6 (p<0,001), cho thấy nguy cơ tăng huyết áp cao hơn 5,6 lần ở người có homocystein máu cao. Nồng độ acid folic và vitamin B12 trung bình không khác biệt đáng kể giữa hai nhóm, tuy nhiên tỷ lệ acid folic thấp (<3 ng/mL) ở nhóm bệnh cao hơn (22,5% so với 11,3%).
Homocystein máu có tương quan thuận mức độ trung bình với huyết áp tâm thu, áp lực mạch, creatinin máu, và tương quan thuận mức độ yếu với tuổi, cân nặng, chiều cao, vòng eo, tỉ số eo/mông, huyết áp tâm trương, acid uric. Ngược lại, có tương quan nghịch mức độ yếu với cholesterol toàn phần, độ lọc cầu thận ước tính, nồng độ acid folic và vitamin B12. Tỷ lệ tăng homocystein máu cao hơn ở nam giới (79,3% so với 47,7% ở nữ) và tăng dần theo nhóm tuổi, cũng như tăng theo mức độ huyết áp và áp lực mạch.
Sau 8 tuần điều trị, nồng độ homocystein máu ở nhóm chứng có tăng homocystein và nhóm bệnh được điều trị tăng homocystein đã giảm xuống đáng kể (p<0,001), còn 12,3% và 17,0% lần lượt có tăng homocystein. Nhóm bệnh chỉ điều trị tăng huyết áp không giảm nồng độ homocystein.
Nghiên cứu khuyến nghị xét nghiệm homocystein máu ở người cao tuổi để tầm soát nguy cơ tim mạch và tăng huyết áp, đồng thời xem xét điều trị phối hợp acid folic, vitamin B12, B6 cho đối tượng có tăng homocystein máu.