TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TỤC NGỮ, CA DAO TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Không được cung cấp rõ ràng trong văn bản.
Luận án của tác giả Liêu Thị Thanh Nhàn tập trung nghiên cứu các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người (BPCTN) trong tục ngữ và ca dao tiếng Hán, tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận. Nghiên cứu này đặt ra các nhiệm vụ chính: hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận, thống kê, phân loại và phân tích các ẩn dụ ý niệm (ADYN) và hoán dụ ý niệm (HDYN) liên quan đến BPCTN, đồng thời mô tả miền ý niệm của các từ ngữ này.
Trong khuôn khổ luận án, tác giả đã khảo sát các từ ngữ thuộc hệ thống tên gọi thông dụng, không bao gồm các thuật ngữ khoa học. Luận án đã thống kê 56 danh từ chỉ BPCTN và 243 từ ngữ kết hợp tạo nên ADYN và HDYN trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán (từ 882 câu tục ngữ và 70 bài ca dao). Đối với tiếng Việt, có 53 danh từ chỉ BPCTN và 248 từ ngữ kết hợp được khảo sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các từ ngữ chỉ BPCTN trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán có sự ánh xạ đa dạng từ miền nguồn sang các miền đích như không gian, danh dự, quyền lực, sự việc, kinh tế, xúc giác, thời gian, đồ vật, cuộc sống và hiện tượng tự nhiên (đối với ADYN). HDYN ở tiếng Hán thường ánh xạ sang các khía cạnh về con người (tâm lí, tinh thần, tình cảm, xã hội, sinh học, tâm linh) và các hành vi, kỹ năng, lời nói.
Tương tự, trong tục ngữ, ca dao tiếng Việt, các từ ngữ chỉ BPCTN cũng ánh xạ sang các miền đích như không gian, sự việc, kinh tế, danh dự, quyền lực, đồ vật, đồ ăn, chất liệu (đối với ADYN). HDYN tiếng Việt cũng chủ yếu ánh xạ sang các khía cạnh về con người (tâm lí, tinh thần, tình cảm, sinh học, xã hội, tâm linh) và các hành vi, kỹ năng, lời nói, cái chết.
Luận án cũng chỉ ra sự tương đồng trong cơ chế thiết lập mô hình tri nhận ADYN giữa tiếng Hán và tiếng Việt, đặc biệt trong cấu trúc ánh xạ từ BPCTN đến miền đích không gian (ví dụ: tay, bụng, miệng là vật chứa) và danh dự. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề cập đến sự dị biệt trong cơ chế tri nhận ADYN, điển hình qua cách người Hán tri nhận về "mắt" trong miền đích không gian. Nhìn chung, mô hình tổng quát về sự chọn lọc và phân bố các thuộc tính BPCTN điển dạng đã minh chứng cho sự phong phú và đa dạng trong cách thế giới được ý niệm hóa qua ngôn ngữ.
1. Lý do chọn đề tài
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Dẫn nhập
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.3.2. Khái quát về nhóm từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người
1.3.8. Sơ đồ hình ảnh
2.3. Mô hình tổng quát về sự chọn lọc và phân bố các thuộc tính "BPCTN" điển dạng trong hai miền ý niệm nguồn và đích
2.4. Thiết lập sự ánh xạ của mô hình tri nhận của ADYN và HDYN "BPCTN" trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán
2.4.1. Sự ánh xạ của mô hình tri nhận của ADYN "BPCTN" trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán
2.4.1.2. Sự ánh xạ từ miền nguồn là các từ ngữ chỉ BPCTN sang miền đích danh dự con người
2.4.1.3. Sự ánh xạ từ miền nguồn là các từ ngữ chỉ BPC...
2.4.2. Sự ánh xạ của mô hình tri nhận của HDYN "BPCTN" trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán
2.4.2.1. HDYN giữa bộ phận và toàn thể
3.2.1. Nhóm từ ngữ chỉ BPCTN trong tục ngữ, ca dao tiếng Việt
3.4. Thiết lập sự ánh xạ của mô hình tri nhận của ADYN và HDYN "BPCTN" trong tục ngữ, ca dao tiếng Việt
3.4.1. Sự ánh xạ của mô hình tri nhận của ADYN "BPCTN" trong tục ngữ, ca dao tiếng Việt
3.4.1.4. Sự ánh xạ từ miền nguồn là các từ ngữ chỉ BPCTN sang miền đích sự việc
3.4.2. Sự ánh xạ của mô hình tri nhận của HDYN "BPCTN" trong tục ngữ, ca dao tiếng Việt
3.4.2.1. HDYN giữa bộ phận và toàn thể
3.5. Tiểu kết
4.2.2.2. Sự dị biệt trong cơ chế thiết lập mô hình tri nhận ADYN trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán và tiếng Việt